Hiển thị các bài đăng có nhãn PHÁP LUẬT VÀ XÃ HỘI DÂN SỰ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn PHÁP LUẬT VÀ XÃ HỘI DÂN SỰ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2009

THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG: VẤN ĐỀ ĐIỀU TIẾT CỦA XÃ HỘI TRONG LĨNH VỰC QUAN HỆ LAO ĐỘNG

TSKH. PHẠM ĐỨC CHÍNH – Khoa Kinh tế, Đại học Quốc gia TPHCM

Ngày nay, cả về phương diện lý thuyết, cả về phương diện thực tế đều thừa nhận rằng, phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại chỉ có thể đạt được kết quả trong điều kiện kết hợp khả năng tự điều tiết của nó với điều tiết của Nhà nước và xã hội. Dựa trên những công ước và hướng dẫn của Tổ chức lao động thế giới (International Labour Organization-ILO) vấn đề điều tiết của xã hội trên thị trường lao động đã được vận dụng rộng rãi ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển và kết quả đạt được cũng rất đáng khích lệ.

Tuy nhiên ở Việt Nam, vấn đề này mới được tiếp cận vào những năm gần đây và kết quả đạt được cũng chỉ là rất khiêm tốn, thậm chí đối với nhiều cơ quan quản lý lao động và việc làm thì lĩnh vực này vẫn được cho là hoàn toàn mới mẻ. Vì vậy, tiếp theo bài viết “Thị trường lao động: vấn đề điều tiết và tự điều tiết ở Việt Nam”1, bài viết này chúng tôi sẽ cố gắng đi sâu hơn nữa vào vấn đề điều tiết của xã hội trong lĩnh vực quan hệ lao động- xã hội trong giai đoạn hình thành thị trường lao động ở nền kinh tế đang chuyển đổi của Việt Nam.

I. Khái niệm về điều tiết của xã hội trong thị trường lao động

Điều tiết xã hội-đó là sự tham gia cùng nhau của các bên khác nhau vào soạn thảo và thực hiện những thoả ước lao động xã hội (các chương trình, thoả thuận) trong một thời hạn nhất định. Điều kiện cơ sở để tạo lập nền kinh tế thị trường là quan hệ giữa nhà doanh nghiệp và người lao động để đạt được giữa họ với nhau bầu không khí hòa bình xã hội, còn những mâu thuẫn xuất hiện thì được giải quyết bằng những biện pháp văn minh. Điều tiết xã hội không loại trừ khả năng đòi hỏi của người lao động về tăng lương, thay đổi chế độ làm việc và điều kiện lao động, giảm thuế v.v. Tuy nhiên các cuộc bãi công mang tính chất chính trị như đòi hỏi phải thay đổi chính quyền, chính phủ hoặc tổng thống của đất nước phải từ chức đã vượt ra ngoài phạm vi điều tiết xã hội về các quan hệ lao động. Điều tiết xã hội có thể là hai bên (giữa nhà doanh nghiệp và đại diện của người lao động, tức là tổ chức công đoàn) và ba bên (giữa đại diện chính quyền, nhà doanh nghiệp và công đoàn). Phát triển quan hệ thị trường, xây dựng một nền kinh tế nhiều thành phần, xuất hiện và mở rộng các tầng lớp nhà doanh nghiệp và chủ sở hữu đã tạo ra khả năng điều tiết ba bên trong xí nghiệp, giữa người sử dụng lao động, tập thể lao động và đội ngũ quản lý làm thuê.

Trong các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, cơ chế điều tiết xã hội là phương pháp điều tiết các mối quan hệ này và sự thống nhất quyền lợi của người lao động làm thuê và người thuê lao động thông qua ký kết hợp đồng và thoả ước lao động tập thể.

Đối tượng của hợp đồng là những vấn đề thu nhập từ lao động, việc làm, điều kiện lao động, bảo đảm và bảo trợ xã hội đối với người lao động của những nghề nghiệp, ngành nghề hoặc là lãnh thổ nhất định, được Nhà nước xác lập trên mức đảm bảo tối thiểu. Đàm phán được diễn ra dưới vai trò trung gian của nhà nước, mà có thể tham gia vào quá trình đàm phán trực tiếp (thông qua các đại diện của mình) và gián tiếp (thông qua các cơ quan trọng tài, các uỷ ban thoả thuận và các văn bản pháp luật).

Điều tiết các hợp đồng tập thể cho phép thoả thuận trên cơ sở thương thuyết các quyền lợi của người lao động, người thuê lao động và nhà nước, và cũng là bổ sung quan trọng của cơ chế thị trường điều tiết các quan hệ lao động xã hội.

Xác định và vận dụng hệ thống điều tiết xã hội là hoàn toàn của chung, thế nhưng không loại trừ sự tồn tại những quan niệm khác nhau tương đối về thực chất của nó. Sự đa dạng những sắc thái ý kiến có thể chia làm ba nhóm phổ biến nhất.

Thứ nhất, cơ chế điều tiết xã hội là một hệ thống quan hệ tương hỗ giữa người làm thuê và giới chủ đi tới thay thế cho cuộc đấu tranh giai cấp. Chiếu theo một mức độ nào đó, những nhận thức ngày nay ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển tồn tại khả năng tránh khỏi những mâu thuẫn giai cấp. Mâu thuẫn giai cấp được chuyển thành mâu thuẫn giữa các tổ chức, đại diện cho những quyền lợi khác nhau trong xã hội, có thể giải quyết bằng con đường đàm phán và thoả hiệp. Cơ chế điều tiết xã hội trong trường hợp này là một trong những giải pháp thoả hiệp quyền lợi của các bên trong xã hội.

Thứ hai, cơ chế điều tiết xã hội - đó là giải pháp thống nhất các quyền lợi đối nhau, phương pháp giải quyết những vấn đề kinh tế xã hội và điều chỉnh những mâu thuẫn giữa giai cấp lao động làm thuê và giai cấp sở hữu. Mặc dù có những thay đổi đã diễn ra trong lĩnh vực kinh tế và xã hội ở xã hội phương Tây, những khác biệt và mâu thuẫn quyền lợi của những người làm thuê và người thuê lao động vẫn còn tồn tại. Trong trường hợp này, hệ thống điều tiết xã hội-là giải pháp làm giảm đi những mâu thuẫn giai cấp, điều kiện ổn định chính trị và ngưng chiến xã hội trong xã hội.

Thứ ba, hệ thống điều tiết xã hội như giải pháp điều tiết các quan hệ lao động xã hội không tồn tại, bởi vì không có điều kiện khách quan để cho sự tồn tại của nó. Quan điểm này được phân chia hoặc là đại diện của trường phái tự do, khẳng định rằng, cơ chế thị trường chính tự thân, không có sự can thiệp của nhà nước và chủ thể khác nào

đấy, có khả năng điều tiết tất cả mọi quan hệ, kể cả những quan hệ lao động và xã hội; hoặc là các nhà lý thuyết, mà tuyên truyền theo chủ nghĩa phát xít; hoặc là chủ nghĩa cực quyền, bênh vực ý tưởng thống nhất xã hội kinh tế và chính trị-tinh thần, đồng nhất quyền lợi của các dân tộc được thực hiện thông qua một nhà nước mạnh.

Nếu như chưa tính đến quan điểm thứ ba và chỉ quan tâm đến hai quan điểm đầu, có thể nhấn mạnh rằng, những người ủng hộ quan điểm thứ nhất và thứ hai thừa nhận sự cần thiết phải tồn tại hệ thống điều tiết xã hội, nhưng họ xác định bản chất biểu hiện này rất khác nhau. Những ai xem xét hệ thống điều tiết xã hội như người đối lập đấu tranh giai cấp, xuất phát từ quan điểm rằng, chủ nghĩa tư bản ngày nay không phải là chủ nghĩa tư bản theo mô hình cổ điển.

Đó là một xã hội mới, nơi không có nhà tư bản và những người làm thuê, mà có những bạn hàng bình đẳng có thể thoả thuận với nhau trong trường hợp xuất hiện những bất đồng. Hiểu biết như vậy, hệ thống điều tiết xã hội dễ dàng thống nhất với mô hình cải cách dân chủ xã hội xã hội TBCN ngày nay, mà không đề cập đến những cơ sở gốc rễ của xã hội này, những nguyên tắc cơ sở và các giá trị của nó.

Phong trào dân chủ xã hội ngày nay xem xét hệ thống điều tiết xã hội như một giải pháp đảm bảo tiến trình hoà bình của xã hội TBCN trong tình hình của nó, nơi mà mâu thuẫn giai cấp được chuyển thành mâu thuẫn giữa các tổ chức công đoàn và hiệp hội các nhà doanh nghiệp. Các nhà dân chủ xã hội cho rằng, điều kiện cơ bản để hình thành quan hệ bạn hàng là sự thống nhất các mục đích của người làm thuê và nhà tư bản. Nếu sự thống nhất mục đích diễn ra ở mức độ mục đích viễn cảnh, thì có khả năng thành bạn hàng bền vững đầy đủ và lâu dài; nếu ở mức độ mục đích cá nhân - thì bạn hàng như vậy sẽ là tạm thời. Nhưng trong bất kỳ trường hợp nào, đối tác như vậy không thể tồn tại khi không thống nhất được mục đích. Những người làm thuê và các nhà doanh nghiệp là các bên của một sự thống nhất. Họ không thể tồn tại mà không có nhau. Và nếu giữa họ xuất hiện những mâu thuẫn, thì sẽ tìm được những giải pháp thực sự để giải quyết tức thời và có hiệu quả vì quyền lợi của cả hai bên.

Trong tư duy của các nhà tư tưởng cải cách xã hội, hệ thống điều tiết xã hội là giải pháp thống nhất quyền lợi của người làm thuê và nhà doanh nghiệp bằng con đường đàm phán và đạt được thoả thuận, khi mà quyền lợi lâu dài của hai bên trùng nhau, và khi mà mong muốn đối thoại thường xuyên có khả năng đảm bảo cho tiến triển hoà bình xã hội TBCN trong thực trạng như vậy, nơi diễn ra sự hợp tác của những người bạn bình đẳng thay thế cho cuộc đấu tranh giai cấp và những mâu thuẫn giai cấp.

Những người phân chia quan điểm thứ hai cho rằng, CNTB ngày nay theo bản chất thì không có gì khác so với CNTB của những thế kỷ trước đây. Sự tồn tại sở hữu tư nhân về những tư liệu sản xuất cơ bản vẫn còn duy trì, vì thế mâu thuẫn đối kháng quyền lợi của người làm thuê và nhà tư bản cũng vẫn tồn tại. Không thống nhất quyền lợi của người làm thuê và người thuê lao động được thể hiện từng phút, từng giờ, chứ chưa nói gì về những triển vọng xa xôi. Giai cấp tư bản, tiền đồ của những nhà sở hữu tư liệu sản xuất, quan tâm đến việc duy trì chế độ xã hội, mà cơ sở của nó là sở hữu tư bản tư nhân. Ngược lại, đối với người công nhân thực hiện được quyền lợi tận gốc trong khuôn khổ một xã hội như vậy không thể được. Trong trường hợp này, cơ chế điều tiết xã hội chỉ là một trong những hình thức thống nhất những quyền lợi không hoà giải được

về mặt bản chất và những quyền lợi đối nhau về mặt nội dung của người làm thuê và người thuê lao động.

Vậy xác định nào mở ra bản chất của hệ thống điều tiết xã hội chính xác hơn? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta tiếp tục nghiên cứu điều kiện xuất hiện hệ thống điều tiết xã hội.

II. Những tiền đề khách quan và điều kiện xuất hiện cơ chế điều tiết xã hội về lao động

Hệ thống điều tiết xã hội như một thực tế hình thành và hệ tư tưởng thống nhất được khẳng định chỉ vào nửa sau của thế kỷ XX (sau Đại chiến thế giới Thứ hai) chủ yếu ở các nước tư bản phát triển (Đức, áo, Thụy Điển, Na Uy v.v). Sự phồn vinh của hệ thống này gắn với những năm 60-70 của thế kỷ XX. Tại sao lại vào đúng thời kỳ này? Giai cấp tư sản và lao động làm thuê đã tồn tại nhiều thế kỷ. Và chính trong suốt khoảng thời gian đó sự tồn tại cùng nhau của chúng đã xuất hiện nhu cầu điều tiết những quan hệ lao động xã hội. Như chúng ta đã biết, quan hệ tư sản đầu tiên xuất hiện ở những thành phố thương mại lớn của nước ý (Florensia, Genova) từ cuối thế kỷ XIV. Vào thế kỷ thứ XV-XVI, chúng được truyền bá rộng rãi ở nhiều nước Tây Âu như: Đức, Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha. Tuy nhiên vào thế kỷ XV-XVII quan hệ tư sản đã tồn tại cùng với những quan hệ phong kiến.

Vào thời kỳ này những giai cấp mới - giai cấp tư sản và lao động làm thuê vừa mới được sinh ra. Nhưng ngay từ giai đoạn đầu tính chất quyền lợi mâu thuẫn đối lập của họ (mâu thuẫn đối kháng) được thể hiện đầy đủ và rõ ràng. Người công nhân tự do không có tư liệu sản xuất, không có đất đai, bị bắt buộc làm thuê cho người nắm giữ tư liệu sản xuất - nhà tư sản.

Sự quan tâm chủ yếu của anh ta là nhận thu nhập từ thành quả lao động của mình càng nhiều càng tốt, còn làm việc thì theo khả năng càng ít càng tốt.

Ngược lại, nhà tư bản thì quan tâm đến trả công lao động cho người công nhân làm sao có thể ít đi thì càng tốt, bởi vì đối với nhà tư bản, lương của công nhân bao gồm một phần chi phí chung, mà lương cao thì lợi nhuận sẽ giảm đi.1

Kể từ khi xuất hiện giai cấp tư sản và đội ngũ người làm thuê - vấn đề tiền công lao động và thời gian ngày làm việc là đối tượng của mặc cả và đấu tranh. Mô tả sự xung đột của tư bản và lao động, C.Marx nhấn mạnh rằng, “Trong lịch sử sản xuất TBCN định mức ngày làm việc xuất hiện như cuộc đấu tranh vì giới hạn ngày làm việc, - đấu tranh giữa tập hợp vốn, có nghĩa là giai cấp tư sản, và tập hợp công nhân, có nghĩa là giai cấp công nhân”, khi mà “Quyền lợi đối lập với quyền lợi”. Và, tiếp tục: “Khi đụng chạm hai dạng quyền lợi khác nhau này thì sẽ được giải quyết bằng sức mạnh”2.

Tuy nhiên, tư bản còn rất yếu để độc đoán đề ra những điều kiện của mình. Cho nên nhà nước phải giúp đỡ tư bản vừa mới sinh ra. Vào thời kỳ hình thành CNTB, chính nhà nước đã trợ giúp tư bản cưỡng bức kéo dài ngày làm việc bằng con đường xác lập cái gọi là “giá cả hợp lý” và chốt chặt trong chế độ pháp lý bắt buộc thời gian ngày làm việc xác định. Điều này C.Marx đã mô tả rất rõ trong tác phẩm “Tư bản” của mình.

Nghiên cứu lịch sử luật pháp công nghiệp Anh, C.Marx đã chứng minh trong thời kỳ hình thành CNTB Anh cổ điển, qui chế công nhân Anh đóng vai trò nào3, bắt đầu từ thế kỷ XIV và kéo dài đến giữa thế kỷ XVIII4. Ông nhấn mạnh rằng, bây giờ CNTB đang trong tình trạng phôi thai, trong quyền hạn của mình nó “Đảm bảo thu hút khối lượng đầy đủ lao động thặng dư...không chỉ bằng một sức mạnh các quan hệ kinh tế, mà còn bằng cả tác động của chính quyền nhà nước”5.

Điều tiết lương bắt buộc theo hướng bất lợi cho người công nhân và có lợi cho người thuê lao động được duy trì trong suốt một thời gian dài. Thời kỳ này ở Anh chiếm 464 năm. Khi hệ thống quan hệ TBCN được khẳng định hoàn toàn, nhà nước, thể hiện theo hình mẫu của C.Marx, chuyển thành “người gác đêm” tuân theo những qui định, để không ai và không cái gì phá vỡ được thông lệ bình thường6.

Nếu vào thời kỳ hình thành quan hệ TBCN, công nhân không thể trông mong được gì đến trợ giúp của nhà nước (nhà nước hoàn toàn đứng về phía tư bản vừa mới sinh ra), thì trong hệ thống kinh tế TBCN, họ lại càng không trông mong gì nhiều hơn vào nhà nước, mà lại tuyên bố rất rõ ràng về sự trung lập của mình. Để bảo vệ được mình người công nhân bắt buộc phải liên kết lại với nhau. Họ không chỉ phải đối đầu với nhà bản, mà còn làm áp lực lên nhà nước, ép buộc đưa ra những bộ luật có tính đến quyền lợi của nhà tư bản và người lao động làm thuê. Tóm lại, chính sự phát triển của CNTB đã khuyến khích người công nhân liên kết với nhau. Nhưng cũng chính sự phát triển của CNTB đã làm mọi cách để cản trở quá trình này, bởi vì nhà tư bản sợ người công nhân, sợ sự đoàn kết của họ. Chính vì nguyên nhân này trong khoảng thời gian dài, ở nhiều nước đã tồn tại những bộ luật cấm hoạt động của công đoàn. Rút cục chỉ mãi đến cuối thế kỷ XIX, công đoàn mới hợp pháp hoá được hoạt động của mìnhNăm 1868, Hội nghị Công đoàn toàn Anh được thành lập; vào năm 1898, Đảng công nhân Vương quốc Bỉ thành lập ra Uỷ ban công đoàn Bỉ. Năm 1906, đánh dấu giai đoạn khởi đầu hoạt động công đoàn có tổ chức ở Nga. Vào năm 1929, tổ chức công đoàn Việt Nam được thành lập. Tại Mỹ, tổ chức công nhân chỉ được thừa nhận hợp pháp vào những năm 30 của thế kỷ XX (Bộ luật Vagnera 1936, Bộ luật Norrisa-La Gardena 1932, hợp pháp hoá những hợp đồng lao động tập thể).

Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở các nước công nghiệp dần dần hình thành Luật Lao động. Vào năm 1907, Bộ luật Dân sự của Đan Mạch được thông qua; năm 1911, Bộ luật Trách nhiệm của Thụy Sĩ được thông qua; vào năm 1915 xuất hiện Bộ luật Đặc biệt ở NaUy; những bộ luật tương tự được thông qua ở Đức năm 1918, ở Pháp năm 1919. Khi phong trào công nhân được củng cố bắt đầu xuất hiện cả hiệp hội các nhà doanh nghiệp. Nhưng về hệ thống điều tiết xã hội các mối quan hệ lao động thì chưa được nói đến. Bắt đầu từ đầu thế kỷ XX đã xuất hiện những đòi hỏi để khái niệm “Hệ thống điều tiết xã hội các quan hệ lao động-xã hội” đi vào lý thuyết và thực tế điều tiết những quan hệ này giữa người lao động làm thuê và người thuê lao động. Vào thời kỳ này, những thay đổi thực sự nào đã diễn ra trong phát triển kinh tế xã hội của các nước? Trước hết, sự phát triển của CNTB bước vào một giai đoạn mới: sự tập trung vốn mạnh lên và tăng qui mô sản xuất. Tư bản đã phát triển vượt ra khỏi ranh giới quốc gia, hợp tác hoá lao động thế giới và quốc tế hoá sản xuất đã mở rộng phát triển. Đồng thời, cuộc cạnh tranh trên thị trường trong nước và ngoài nước ngày càng mạnh lên. Trong những điều kiện này, biểu tình của công nhân, đình trệ sản xuất tạm thời đã gây ra những mất mát nghiêm trọng cho nhà doanh nghiệp, đặc biệt vào khoảng 20-30 năm trước đây, bởi vì giảm khả năng cạnh tranh các sản phẩm của họ đã dẫn đến giảm lợi nhuận.

Lần đầu tiên sau nhiều năm phát triển tương đối ổn định, những biến động kinh tế nghiêm trọng đã bao trùm hầu hết các nước tư bản phát triển (Đại khủng khoảng thế giới 1929-1933 và Đại chiến thế giới Thứ hai). Vị trí tư bản ở các nước tư bản phát triển thực sự bị yếu đi. Trong bối cảnh của những biến động này hoạt động của phong trào công đoàn mạnh lên. Tháng 10 năm 1949, phong trào công đoàn ở Cộng hoà Liên bang Đức được phục hồi (thành lập Liên hiệp các công đoàn Đức). Vào năm 1945 diễn ra sự liên kết các Công đoàn Bỉ và thành lập Liên đoàn lao động toàn Bỉ. Phong trào công đoàn ở các nước Nam Âu (ý, Hy Lạp, Bồ Đào Nha) cũng thu được sức mạnh. Vào những năm 1960 ở Tây Ban Nha trên cơ sở các uỷ ban công nhân (giống như Ban chấp hành công đoàn ở các xí nghiệp) công đoàn cũng trưởng thành và thành lập Liên đoàn các uỷ ban công nhân công đoàn. Dưới tác động của Công đoàn ở Anh, Công đảng toàn vương quốc Anh được thành lập, mà sau Đại chiến thế giới Thứ hai Công đảng đã 4 lần nắm chính quyền (1954-1961, 1964-1970, 1974-1979, 1995 đến nay).

Sau Đại chiến thế giới Thứ hai ở các nước tư bản phát triển, phong trào công nhân và công đoàn tuyên bố về mình như một sức mạnh thực sự không thể không tính đến.

Tóm lại, sau Đại chiến thế giới Thứ hai, sự cưỡng bức tư bản ở các nước tư bản phát triển thực sự bị phá vỡ, còn uy tín và ảnh hưởng của công đoàn mạnh lên. Trong thế giới tư bản hình thành một tương quan sức mạnh mới giữa những người làm thuê và người thuê lao động. Cùng với sự thay đổi tương quan lực lượng thì cả vai trò của nhà nước cũng thay đổi.

III. Hệ thống điều tiết xã hội về các quan hệ lao động-xã hội trên thế giới ngày nay

Trong khoảng 20 năm gần đây, chính sách nhà nước của các nước công nghiệp phát triển đã diễn ra những thay đổi thực sự. Giảm trợ cấp xã hội và các chi phí cho phát triển giáo dục và y tế. Tất cả điều đó diễn ra dưới khẩu hiệu khủng hoảng lý thuyết “Nhà nước hưng thịnh chung”, bởi vì những chi phí xã hội tăng lên sẽ làm giảm đi hiệu quả nền kinh tế nói chung. Trên cơ sở này, ở các nước công nghiệp phát triển, vị trí lý thuyết “Nhà nước hưng thịnh chung” được từ từ thay thế bằng lý thuyết “Nhà nước hiệu quả”. Theo lý thuyết này, những chi phí cho bảo trợ hưu trí, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp không thể được bảo trợ chỉ từ nguồn vốn ngân qũy nhà nước. Chúng phải được phân bố đều giữa các chủ thể xã hội. Thực hiện tư tưởng này trong thực tế có nghĩa là giảm trách nhiệm của nhà nước vì tình trạng và mức độ phát triển các lĩnh vực xã hội và bảo trợ xã hội.

Bản chất nhà nước tư sản không thay đổi, thậm chí nếu như nó nhận trách nhiệm về mình một phần chi phí xã hội và đảm bảo mức sống xác định của người lao động. Các nguồn chi phí ngân quỹ nhà nước để trang trải những chương trình xã hội được hình thành từ nguồn thu thuế, mà cả người lao động và người thuê lao động phải đóng góp. Nguồn thu thuế này có thể tăng hoặc là giảm. Đồng thời cũng có thể tăng hoặc giảm trợ cấp xã hội từ ngân quỹ nhà nước. Sự dao động khối lượng trợ cấp xã hội - đó là chỉ số, ở mức độ nào nhà nước sẵn sàng nhận và thực sự nhận về mình trách nhiệm vì tình hình và mức độ phát triển lĩnh vực xã hội và bảo trợ xã hội. Trước hết, tăng hoặc giảm trách nhiệm của nhà nước là thể hiện sự yếu hay mạnh của tư bản.

Khi tư bản yếu, sự phản kháng từ phía phong trào công nhân và công đoàn mạnh lên, trách nhiệm của nhà nước tăng. Trong tình huống này; một trong những giải pháp hỗ trợ tư bản là tăng trợ cấp xã hội, tạo điều kiện giảm bớt căng thẳng xã hội. Khi tình hình được cải thiện nhà nước tuyên bố tăng thiếu hụt ngân quỹ và cần thiết phải giảm chi phí xã hội.

Sau Đại chiến thế giới Thứ hai vị thế tư bản bị phá vỡ; chính sự yếu kém này bắt buộc nó phải tìm con đường hợp tác với công đoàn7. Những thập kỷ gần đây sức mạnh đặc biệt thể hiện những yếu tố mới, đã phá vỡ cân bằng lực lượng sẵn có và thực sự làm yếu đi vị thế của phong trào công nhân và công đoàn.

Thứ nhất, quá trình chuyển vốn tư bản ra nước ngoài đã bắt đầu từ đầu thế kỷ XX, đến ngày nay nó mạnh lên rất đáng kể. Tư bản lớn ngày nay cơ động hơn bởi vì nó linh hoạt hơn trong lựa chọn những giải pháp áp lực đến phong trào công nhân và công đoàn. Lập luận cơ bản ngày nay của các nhà doanh nghiệp là, nếu không đạt được thoả thuận với công nhân thì tuyên bố có khả năng đóng của nhà máy và chuyển xí nghiệp sang nước khác với sức lao động rẻ hơn và dễ đàm phán hơn8.Trong điều kiện kém phát triển của sự đoàn kết quốc tế của người lao động, những khác biệt ở mức độ phát triển kinh tế của các nước khác nhau và mức sống của người lao động, phản bác lại những lý lẽ đó rất phức tạp. Cho nên dưới áp lực sợ bị mất việc, người lao động thường xuyên phải đồng ý với mức lương thấp hơn và điều kiện lao động kém đi, và đó là dẫn chứng về sự phá vỡ cân bằng lực lượng.

Thứ hai, mạnh lên quốc tế hoá sản xuất nhường vào tay người thuê lao động một lý lẽ xác đáng trong đàm phán với công nhân. Viện dẫn về mạnh lên cạnh tranh ở thị trường bên ngoài, người thuê lao động vẫn thường xuyên sẵn sàng dành cho người công nhân những địa vị hành chính. Với mục đích mạnh lên khả năng cạnh tranh của sản phẩm quốc nội, nhà doanh nghiệp đề nghị công nhân đồng ý giảm chi phí, trong đó có giảm lương. Họ khẳng định rằng, biện pháp này sẽ cho phép vượt qua cạnh tranh, tăng thêm lợi nhuận, và tất cả đều có lợi: người lao động, giới chủ và nhà nước.

Thứ ba, trong thế giới ngày nay đã có sẵn sự khủng khoảng của phong trào công đoàn, khoảng hai thập kỷ gần đây đã kéo theo hàng loạt những tình huống. Trong số đó là: giảm số lượng các xí nghiệp lớn và tăng số lượng các xí nghiệp nhỏ, nơi rất khó liên kết người lao động; tăng số lượng người lao động làm việc trong lĩnh vực dịch vụ; tăng thất nghiệp, đồng thời cũng tăng việc làm từng phần và việc làm không đầy đủ; vận dụng hợp đồng lao động cá nhân vào chỗ thoả ước lao động tập thể. Những tình huống này thực sự phá vỡ cân bằng lực lượng và tạo điều kiện tăng lên vị trí của tư bản. Tóm lại, những khuynh hướng ngày nay trong lĩnh vực lao động xã hội chứng tỏ rằng, trong, trong những trường hợp đó khi tư bản vào tình huống nào yếu đi (kinh tế hoặc là chính trị), thì nó tích cực đi đến giải pháp các quan hệ lao động xã hội. Hỗ trợ công đoàn trong những trường hợp đó tạo điều kiện cho nhà tư bản phồn vinh và duy trì được thu nhập của mình. Nhưng chỉ khi nào nhà tư bản tìm được sức mạnh đã qua của mình, thì anh ta có khuynh hướng tách ra khỏi sự bảo trợ của công đoàn.

IV. Vai trò của ILO trong phát triển cơ chế điều tiết xã hội trên thị trường lao động

Các công ước, hướng dẫn và cả những kinh nghiệm hoạt động trong thực tế của ILO đóng vai trò lớn trong việc hình thành và phát triển hệ thống điều tiết xã hội ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, cũng như các nước đang phát triển trên thế giới. Bởi vì nó được xây dựng trên cơ sở ba bên, trên những nguyên tắc của cơ chế giải quyết các quan hệ lao động xã hội.

Sự cần thiết phải ra đời của ILO được xác định bởi ba nguyên nhân.

Thứ nhất - nguyên nhân chính trị. Cuộc cách mạng XHCN Tháng Mười nổ ra ở Nga và một loạt các nước Đông Âu là nguyên cớ hình thành tổ chức này. Với mục đích ngăn ngừa việc giải quyết những mâu thuẫn xuất hiện trong xã hội bằng con đường phá hoại, cưỡng bức, cách mạng: các nhà ILO quyết định thành lập tổ chức thế giới, được thừa nhận tác động bằng mọi cách cho tiến bộ xã hội, xác lập và duy trì hoà bình xã hội giữa các tầng lớp xã hội khác nhau, tạo điều kiện giải quyết những vấn đề xã hội xuất hiện bằng con đường tiến hoá, hoà bình.

Thứ hai - nguyên nhân xã hội. Điều kiện lao động và đời sống người lao động rất nặng nề và không thể chấp nhận được từ vị thế chung của toàn nhân loại. Người lao động bị lâm vào cảnh bị bóc lột gây tổn thất đến sức khoẻ, đời sống gia đình và những quyền lợi cá nhân của họ. Bảo trợ xã hội cho người lao động hoàn toàn thiếu vắng.

Thứ ba - nguyên nhân kinh tế. Mong muốn của từng nước riêng đến việc hoàn thiện vị thế người lao động kéo theo tăng chi phí, tăng giá thành sản phẩm, làm khó khăn thêm cho cuộc đấu tranh cạnh tranh và đòi hỏi giải quyết những vấn đề xã hội ở phần đông các nước, ít nhất cũng là ở các nước phát triển.

Tóm lại, ILO được thành lập với mục đích xác lập và gìn giữ hoà bình xã hội, điều tiết các quan hệ lao động xã hội, bảo vệ quyền lợi của con người. Nó đã trở thành một trong những tổ chức đại diện thế giới có uy tín nhất ILO được thành lập vào tháng 4 năm 1919, nó trở thành tổ chức chuyên môn đầu tiên của Liên hợp quốc. Tháng 4-1919, tại phiên họp toàn thể của hội nghị hoà bình, Điều lệ ILO và Hiến chương lao động đã được thông qua. Điều lệ năm 1919 đã ghi nhận mục đích và nhiệm vụ chính của ILO là cải thiện khẩn cấp điều kiện lao động, nâng cao mức sống của người lao động bằng các biện pháp quốc tế. Nếu như vào thời điểm thành lập, nó liên kết được 42 quốc gia, thì bây giờ đã là 174 nước. Nhân kỷ niệm 50 năm ngày thành lập (1969) tổ chức này được trao tặng giải thưởng Nobel vì hoà bình.

ILO là trung tâm hợp tác lao động xã hội, cơ chế điều tiết các quan hệ lao động xã hội, cơ chế ba bên của thế giới. Cấu trúc ba bên làm cho tổ chức này khác hẳn với các tổ chức thế giới khác. Mỗi một nước tham gia vào tổ chức này đều có đại diện của chính phủ, người lao động và người thuê lao động. Sau nhiều năm tồn tại, ILO đã tích luỹ được những kinh nghiệm to lớn và làm được những công việc thực tế khổng lồ để phát triển cơ chế điều tiết các quan hệ lao động xã hội và điều tiết những vấn đề lao động xã hội xuất hiện.

Việt Nam đàm phán gia nhập ILO từ thời chính quyền Bảo Đại, và gia nhập chính thức vào năm 1950. Chính quyền Sài Gòn đã thừa kế tiếp tục tư cách thành viên ILO từ năm 1954 - và cũng kết thúc vào năm 1975 khi chính quyền này hoàn toàn sụp đổ. Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã làm đơn và chính thức gia nhập tổ chức này vào ngày 26-1-1980, nhưng ngừng sinh hoạt vào năm 1983. Tới tháng 5-1992, Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam đã thông báo với ILO về việc tiếp tục sinh hoạt trở lại. Từ đây mở ra một giai đoạn mới trong quan hệ giữa Việt Nam và ILO.

ILO ảnh hưởng rất lớn tới cơ chế điều tiết các quan hệ lao động xã hội, hình thành và điều tiết thị trường lao động và các quan hệ lao động xã hội trên toàn thế giới. Sự ảnh hưởng này đi theo nhiều hướng. Nó được xác định trong các văn bản cơ bản của tổ chức này - Điều lệ và Tuyên bố Philadenphia, và còn được soạn thảo cụ thể trong các công ước và hướng dẫn, trong hỗ trợ pháp lý cho các nước thành viên. Ví dụ như, soạn thảo Bộ luật Lao động và đào tạo lại cán bộ, nghiên cứu khoa học những vấn đề lao động xã hội và công bố những kết quả đó, và đồng thời cả những công việc và các tài liệu khác. Tất cả cấu trúc tổ chức được xây dựng trên cơ sở ba bên tạo điều kiện cho phát triển cơ chế giải quyết các quan hệ lao động xã hội. ILO tác động đến các chính phủ, tổ chức người lao động và nhà doanh nghiệp trong việc xây dựng và củng cố các cơ quan và bộ máy cần thiết để phát triển cơ chế điều tiết các quan hệ lao động xã hội, xác lập những quan hệ lao động xã hội lành mạnh.

Trong thời kỳ tồn tại của hệ thống XHCN ILO phải hoạt động nhiều về vấn đề tư tưởng, gắn liền với mâu thuẫn hai hệ thống. Còn bây giờ thì hướng vào giải quyết vấn đề lao động xã hội. Trong kỳ họp của Hội nghị lao động thế giới nhân kỷ niệm lần thứ 75 năm ngày thành lập ILO (1994) trong báo cáo của Tổng giám đốc “Những giá trị mà chúng ta đang bảo vệ, đang thay đổi hướng tới những gì chúng ta mong muốn” được nói rằng, “Sự sụp đổ khối cộng sản chủ nghĩa Đông Âu ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình của tổ chức chúng ta, cũng như quá trình phát triển của toàn thế giới”9. Bây giờ trong chừng mực quan trọng, đã được chỉ dẫn trong báo cáo, phải quan tâm khắc phục những căng thẳng đã tồn tại và sẽ tồn tại ở phía trước giữa người lao động và nhà doanh nghiệp. Bởi vì họ cần hoà giải những đòi hỏi trái ngược nhau, gắn với việc làm và lĩnh vực lao động, sản xuất và phân chia thu nhập. Do đó, nhiệm vụ đặt ra là phát triển không ngừng và khắp mọi nơi đối thoại xã hội, đàm phán tập thể, ý thức nhân nhượng, áp dụng mọi nỗ lực để đảm bảo thừa nhận thực sự nguyên tắc ba bên trên toàn thế giới10.

Đồng thời nhấn mạnh vai trò của nhà nước, xuất hiện như người điều tiết, người trọng tài, người trung gian trong các cuộc đàm phán, đóng vai trò luôn luôn quyết định trong việc vận dụng có hiệu quả đối thoại xã hội và các đàm phán tập thể.

V. Sự hình thành và phát triển cơ chế điều tiết xã hội trong lĩnh vực lao động ở Việt Nam

Trong nền kinh tế kế hoạch hoá bao cấp tất cả những vấn đề cơ bản về lao động xã hội đều được các cơ quan Đảng và Nhà nước giải quyết. Cùng với chuyển đổi sang hình thái kinh tế xã hội mới, phát triển thị trường lao động, tất cả những vấn đề lao động xã hội đều được giải quyết bằng con đường đàm phán và thoả thuận giữa những người thuê lao động và người lao động với sự tham gia của chính quyền lập pháp và hành pháp. Phát triển cơ chế điều tiết xã hội về các mối quan hệ lao động xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay mới bắt đầu được tiếp cận, đi cùng với việc nghiên cứu những kinh nghiệm của các nước phát triển đã được tích luỹ nhiều năm qua, và đồng thời cả những thực tế giầu có và đa dạng của ILO. Các nước khác nhau thì cơ chế điều tiết này cũng có những đặc thù riêng của mình, mặc dù những nguyên tắc chung thì thống nhất.

Kinh nghiệm của Nhật Bản trong lĩnh vực này được cho là rất thú vị. Giáo sư Volgin N.A. đã viết: “Hệ thống giải quyết tranh chấp lao động xã hội của Nhật Bản khác về nội dung so với những nước khác bởi tính hoàn thiện và rõ ràng của nó”11.

Tính rõ ràng và kết quả của hệ thống này được đảm bảo bởi những đặc biệt của nhà quản lý Nhật Bản, có tên gọi là hệ thống “Với bản sắc con người”, đến ngày nay được thừa nhận là rất có hiệu quả. Những yếu tố cấu thành cơ bản của hệ thống này - đó là biết làm việc với mọi người, thừa nhận
không phải trong lời nói mà là ở việc làm là lực lượng sản xuất cơ bản của họ, liên kết lãnh đạo các cấp với người lao động của mình và thậm chí với những thành viên trong gia đình, trách nhiệm tập thể của người lao động cao vì thành tích công ty của mình.

Cơ chế điều tiết xã hội về các mối quan hệ lao động xã hội được thừa nhận, đảm bảo quyền lợi của tất cả những người tham gia trên thị trường lao động. Cơ chế này ở Việt Nam mới đang ở giai đoạn sơ khai hình thành, đang dần thể hiện cụ thể hoá, trước hết là trong sự thoả hiệp ba bên tổng thể, theo ngành, theo lãnh thổ và thoả ước tập thể ở xí nghiệp. Thoả ước lao động tập thể là một hình thức điều tiết các quan hệ lao động xã hội mới, xưa nay chưa từng có ở Việt Nam, bổ sung cho cơ chế quản lý và sử dụng lao động trong nền kinh tế thị trường. Thoả ước lao động tập thể là một tiến bộ về mặt xã hội, được pháp luật thừa nhận như một nguồn bổ sung cho những quy định của pháp luật. Trên thực tế, thoả ước lao động tập thể là một văn bản pháp luật “con”, có giá trị đặc thù trong phạm vi một quốc gia, một ngành, một địa phương và một doanh nghiệp. Trong điều kiện thị trường lao động vừa mới hình thành và đang trong giai đoạn tìm tòi để phát triển, khi vị thế đàm phán của người lao động còn yếu, giới chủ vừa mới được phân chia và hình thành, việc ký kết thoả ước lao động tập thể là điều hết sức cần thiết, tạo điều kiện cho các bên tham gia thị trường lao động thực hiện đầy đủ những quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của mình đã được pháp luật qui định.

Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, cơ chế điều tiết xã hội các quan hệ lao động xã hội được sử dụng mang tính tượng trưng-ký hợp đồng lao động tập thể, người lao động tham gia vào quản lý sản xuất, tư vấn và đàm phán về những vấn đề xã hội, thành lập kế hoạch phát triển điều tiết xã hội ở xí nghiệp. Tuy nhiên những quá trình này không được gọi là cơ chế điều tiết xã hội các quan hệ lao động xã hội. Phù hợp với hệ tư tưởng chính thống sự thống nhất về kinh tế, chính trị-xã hội, tinh thần của tất cả các thành viên trong xã hội là nền tảng của chế độ xã hội XHCN theo hình mẫu Xô Viết. Vì thế, theo nội dung đó thì không thể tồn tại những quyền lợi đối nghịch với nhau, không cần thiết phải có cơ chế thống nhất các quyền lợi như cơ chế giải quyết các quan hệ lao động xã hội.

Trong quá trình cải cách nền kinh tế Việt Nam, những nhận thức về cơ chế giải quyết các quan hệ lao động xã hội được thay đổi. Tư tưởng về cơ chế điều tiết xã hội các quan hệ lao động xã hội bắt đầu được tích cực tuyên truyền. Nền kinh tế thị trường ngày nay ở Việt Nam không thể hình thành và phát triển tốt nếu không có hệ thống giải quyết các quan hệ lao động xã hội. Hơn nữa, cơ chế điều tiết xã hội các quan hệ lao động xã hội được đưa ra làm vai trò đệm để làm giảm đi những hậu hoạ trong quá trình chuyển đổi sang quan hệ thị trường. Trong quá trình chuyển đổi này, Nhà nước đã dần dần tiến hành những công việc ban đầu, soạn thảo những văn bản pháp lý để đảm bảo khả năng hình thành hệ thống điều tiết xã hội các quan hệ lao động xã hội.

Bộ luật Lao động của nước CHXHCN Việt Nam 1994 được sửa đổi năm 2002 đã ghi rõ, thoả ước lao động tập thể là văn bản thoả thuận giữa tập thể lao động và người sử dụng lao động về các điều kiện lao động và sử dụng lao động, quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên trong quan hệ lao động.

Thoả ước lao động tập thể do đại diện của tập thể lao động và người sử dụng lao động thương lượng và ký kết theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và công khai. Nội dung thoả ước lao động tập thể không được trái với các quy định của pháp luật lao động và pháp luật khác. Nhà nước khuyến khích việc ký kết thoả ước lao động tập thể với những quy định có lợi hơn cho người lao động so với quy định của pháp luật lao động12. Tiếp theo, Bộ luật Lao động cũng qui định rõ về “Thẩm quyền và trình tự giải quyết tranh chấp lao động tập thể”, trong đó các cơ quan tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể gồm: Hội đồng hoà giải lao động ở cơ sở hoặc hoà giải viên của cơ quan quản lý nhà nước về lao động nơi không có Hội đồng hoà giải cơ sở;

Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh; Toà án nhân dân. Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh gồm các thành viên chuyên trách và kiêm chức là đại diện của cơ quan quản lý nhà nước về lao động, đại diện của công đoàn, đại diện của những người sử dụng lao động và một số luật gia, nhà quản lý, nhà hoạt động xã hội có uy tín ở địa phương13

Phù hợp với Bộ luật Lao động, Nghị định 196/CP ngày 31-12-1994 của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam về “thoả ước lao động tập thể”, cùng các văn bản pháp lý khác cần phải thực hiện một hệ thống ngành dọc cơ chế điều tiết xã hội các quan hệ lao động xã hội, và được bao trùm hết các cấp của toàn xã hội và dự tính đến khả năng ký kết những thoả ước tổng thể, theo ngành (liên ngành), khu vực, nghề nghiệp và vùng lãnh thổ, và đồng thời cả những hợp đồng tập thể. Thoả ước tổng thể, xác lập những nguyên tắc chung về điều tiết các quan hệ lao động xã hội ở cấp nhà nước, cần phải được ký kết giữa Tổng liên đoàn lao động Việt Nam (đại diện quyền lợi cho người lao động Hiệp hội các nhà doanh nghiệp Việt Nam (đại diện là Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam) và Chính phủ nước, Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thoả ước này bao gồm những hướng chung về chính sách kinh tế -xã hội trong lĩnh vực việc làm, tiền công lao động, thu nhập, mức sống của người dân, bảo đảm và bảo trợ xã hội, và đồng thời cả bảo hiểm xã hội.

Khác biệt với thoả ước tổng thể, thoả ước khu vực xác lập những nguyên tắc chung điều tiết các quan hệ lao động xã hội ở cấp các chủ thể riêng biệt; xác định những điều kiện lao động, bảo đảm và những ưu đãi xã hội gắn với những đặc thù lãnh thổ của khu vực, thành phố, địa phương và được ký kết giữa các tổ chức đại diện người lao động, liên hiệp các nhà doanh nghiệp và các cơ quan chính quyền địa phương.

Thoả ước lao động liên ngành xác lập những định mức tiền lương và những điều kiện lao động khác, và cả những bảo đảm và ưu đãi xã hội cho người lao động ở từng ngành xác định. Nó được ký kết giữa các cơ quan đại diện của người lao động, nhà doanh nghiệp và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Việt Nam ở cấp nhà nước. Còn ở cấp chủ thể nhà nước các cơ quan tương ứng về lao động sẽ đại diện cho quyền lợi của Nhà nước.

Thoả ước chuyên ngành sẽ xác định định mức tiền công lao động, bảo đảm và ưu đãi xã hội cho người lao động của ngành nghề cụ thể. Nó cũng được ký kết giữa công đoàn, nhà doanh nghiệp và đại diện cơ quan quản lý lao động.

Và, cuối cùng là hợp đồng tập thể - đó là văn bản pháp lý điều tiết quan hệ giữa những người lao động và người thuê lao động ở xí nghiệp và các công sở. Những người lao động với đại diện của mình và người thuê lao động mà đại diện là lãnh đạo xí nghiệp hoặc là người có toàn quyền phù hợp với điều lệ của tổ chức, đó là những bên tham gia hợp đồng lao động tập thể. Hợp đồng tập thể bổ sung và phát triển những định mức, bao gồm nội dung trong các thoả ước tổng thể, thoả ước ngành và vùng lãnh thổ, và được cụ thể hoá chi tiết. Chúng có thể được thông qua ở trên trong các thoả ước khác, nhưng không thể ít đi. Hợp đồng và các thoả ước lao động tập thể không được làm giảm đi vị thế của người lao động so với pháp luật hiện hành.

Hiện nay, ở Việt Nam vẫn chưa có những số liệu chính thức về các “Thoả ước lao động tập thể” đã được ký kết. Theo thống kê của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, những thoả ước này ở cấp quốc gia, cấp ngành và cấp khu vực hoàn toàn chưa có, mà mới chỉ dừng lại việc ký kết, giao kèo ở trong các doanh nghiệp. Tính chung trên cả nước có khoảng 80% thoả ước lao động tập thể được ký kết giữa người sử dụng lao động và người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước gần 30% trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, và 15% trong các doanh nghiệp tư nhân14.

Tất cả những điều trên đây thể hiện bức tranh đầy ấn tượng và chứng minh rằng, cơ chế điều tiết xã hội các quan hệ lao động xã hội ở Việt Nam đang tồn tại và đã có những điều kiện cần thiết để cho nó tồn tại là:

• Đang diễn ra quá trình chuyển đổi sang quan hệ thị trường;

• Tồn tại cơ sở pháp lý cần thiết tối thiểu để phát triển cơ chế điều tiết xã hội các quan hệ lao động xã hội;

• Công đoàn như là một tổ chức đại diện và bảo vệ quyền lợi của người lao động;

• Giai cấp kinh doanh đã được phân chia;

• Nhà nước đã sẵn sàng với tư cách là người trung gian trong quan hệ giữa người lao động và thuê lao động.

Nhưng đó chỉ là hình thức của cơ chế điều tiết xã hội các quan hệ lao động xã hội. Về mặt nội dung, những quá trình đang diễn ra ở Việt Nam chưa thể hiện được bản chất thực sự của chúng.

Trong suốt thời gian dài ở Việt Nam, người lao động được tuyên truyền rằng, chính họ là những người chủ thực sự của xí nghiệp, nơi mà họ đang lao động. Quyền lợi của ban giám đốc, lãnh đạo xí nghiệp và tập thể lao động không đối lập với nhau. Hệ thống kinh tế đó đã đặt lãnh đạo xí nghiệp vào tình thế phải thường xuyên quan tâm đến người lao động.

Khi sự phát triển nhanh chóng khu vực kinh tế tư nhân và quá trình cổ phần hoá các xí nghiệp nhà nước diễn ra, thì một bộ phận người lao động khi quan hệ với lãnh đạo xí nghiệp và giới chủ vẫn chưa thích ứng kịp. Đến bây giờ một phần người lao động vẫn cho rằng, lãnh đạo xí nghiệp phải quan tâm để quyền lợi người lao động không bị thiệt hại. Khi vấn đề lương không thoả đáng, chỗ làm việc bị cắt giảm, họ cho rằng, đó không phải lỗi của lãnh đạo xí nghiệp, mà là Nhà nước đã không thực hiện đúng chính sách tài chính và thuế khoá để hỗ trợ các xí nghiệp và bảo trợ người lao động.

Trong các nước công nghiệp phát triển, nơi sở hữu tư nhân xác định cơ sở sản xuất, hợp đồng tập thể là tài liệu, cho phép người lao động đạt được những cải thiện thực sự tình hình kinh tế xã hội của mình. Hợp đồng tập thể ấn định kết quả đàm phán của các bên trong lĩnh vực lương, điều kiện lao động và việc làm. Và, những gì thực sự người lao động đạt được thông qua hợp đồng tập thể, phần nhiều phụ thuộc vào sức mạnh và hiểu biết của họ áp chế đến người thuê lao động.

Một thực tế ở Việt Nam là hợp đồng lao động được ký kết ở các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mới chỉ đạt 90%, còn ở các doanh nghiệp tư nhân chỉ đạt 60%, nhưng chủ yếu là những hợp đồng ngắn hạn và xác định thời hạn từ 1 tháng đến 3 năm (chiếm 80%). Trong nhiều doanh nghiệp tư nhân, mặc dù có việc làm thường xuyên, nhưng giới chủ chỉ ký hợp đồng lao động dưới 3 tháng để tránh đóng bảo hiểm xã hội, gây thiệt thòi lớn cho người lao động. Những hợp đồng tập thể ở Việt Nam thường được xem như một loại giấy tờ hình thức thuần tuý, rất ít khi được đưa đến tay người lao động. Và, thậm chí nếu người lao động ký kết được những hợp đồng tập thể tốt (theo quan điểm của họ) thì cũng không có sự đảm bảo nào để tất cả các điểm thoả thuận trong hợp đồng được thực hiện. Vai trò của cơ chế điều tiết xã hội các quan hệ lao động xã hội đáng tiếc là chưa được thể hiện đầy đủ, tiềm năng của nó không được sử dụng hết.

Có nhiều nguyên nhân về thực trạng này. Trong chừng mực quan trọng điều đó được xác định bởi sự chưa hoàn thiện của cơ sở pháp lý, trước hết, là không xác định qui chế các chủ thể quan hệ lao động. Theo luật pháp qui định thì nhà doanh nghiệp hoặc là đại diện của họ không bắt buộc tiến hành đàm phán đến cuối cùng, ký kết và thực hiện chúng, còn những thỏa thuận miệng thường không đầy đủ. Phát triển cơ chế điều tiết xã hội các quan hệ lao động xã hội còn bị kìm hãm bởi sự thiếu vắng nhiều những chuẩn mực xã hội, mà cần làm cơ sở cho quan hệ thoả thuận tập thể.

Chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng, mục đích của cơ chế điều tiết các quan hệ lao động xã hội là đạt được hoà bình xã hội và nhất trí chung về những vấn đề đang tranh cãi, quyền lợi của các bên khác nhau và mâu thuẫn. Nhà kinh tế học nổi tiếng người Tiệp Khắc (trước đây) Otto Sick đã từng viết: “Không nên hoà giải quyền lợi của những người, khi mà một trong số họ nắm giữ toàn bộ tài sản vật chất, toàn bộ tư liệu sản xuất và những đồ vật tiêu dùng, có nghĩa là họ thoả mãn những đòi hỏi của mình vì kết quả lao động của những người khác”15.

Những hoà giải quyền lợi trên cơ sở điều tiết xã hội các quan hệ lao động xã hội rất phức tạp, mà vẫn cứ phải tiến hành.

Ngày nay ở Việt Nam thiếu hẳn những điều kiện cơ bản để phát triển quan hệ hợp đồng giữa người lao động làm thuê và người thuê lao động - chưa có những công đoàn hùng hậu và tác động như một sức mạnh thực sự mà không thể không tính đến. Dĩ nhiên, Công đoàn Việt Nam đã và đang tồn tại hơn 70 năm, nhưng hiện nay mới chỉ thu hút được hơn 4 triệu đoàn viên tham gia hoạt động (chiếm khoảng 10% lực lượng lao động toàn xã hội), mà chủ yếu là những người lao động trong khu vực nhà nước. Trong khi đó, ngày nay có khoảng 10,8 triệu cán bộ, công nhân viên chức, bao gồm 8,2 triệu người làm việc ở các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế và 2,6 triệu người làm việc trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp. Hơn nữa, các cán bộ công đoàn chuyên trách ở các cấp vẫn là những người ăn lương trong ngân sách nhà nước, về thực chất là cán bộ nhà nước. Vì lẽ đó, vai trò là người đại diện cho quyền lợi của người lao động, và là một trong ba bên tham gia trên thị trường lao động vẫn chưa thực sự nổi rõ16.

Trong khi đó, gần 80% số lao động hiện có của Việt Nam là nông dân và không phải là thành viên của Tổ chức này, vì vậy họ không có tổ chức đại diện trên thị trường lao động.

Hoạt động của tổ chức Công đoàn hoặc là còn yếu, hoặc là chiếm giữ những vị trí thoả hiệp rất khiêm tốn và tổ chức Công đoàn vẫn chưa được bao trùm hết các xí nghiệp thuộc mọi loại hình sở hữu17.

Kết quả khảo sát thực tế cho thấy không ít các Công đoàn cơ sở còn lúng túng trong nội dung và phương pháp hoạt động, nặng về tổ chức các phong trào vui chơi giải trí, thể dục, thể thao, thăm hỏi... mà chưa thực sự có những hoạt động thiết thực tham gia vào quá trình quản lý doanh nghiệp, phát huy sức sáng tạo của công nhân lao động và bảo vệ quyền lợi của người lao động thông qua việc ký kết và giám sát thực hiện các hợp đồng và các thoả ước lao động tập thể. Thậm chí trong nhiều trường hợp diễn ra những phản ứng dữ dội của người lao động ở các DN, đặc biệt những DN có vốn đầu tư nước ngoài, nhưng công đoàn vẫn không làm chủ được tình thế để xứng đáng với vị trí đại diện quyền lợi cho người lao động. Bên cạnh đó, từ ngày 27-4-2003, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam được mở rộng thêm chức năng đại diện cho Cộng đồng doanh nghiệp giải quyết không chỉ các vấn đề về kinh tế và kinh doanh, mà còn cả các vấn đề về lao động-xã hội. Tuy nhiên, hoạt động của tổ chức này nhằm hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp, song lại chưa được chuẩn bị chu đáo các chức năng đại diện cho quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của người sử dụng lao động để tham gia vào thị trường lao động. Hơn nữa, những thay đổi khuôn khổ pháp lý trong lĩnh vực lao động xã hội tuy có lớn, nhưng ảnh hưởng của nó mới chỉ giới hạn chủ yếu trong khu vực kinh tế nhà nước. Trong khi hàng triệu người lao động và chủ sử dụng lao động trong các khu vực ngoài quốc doanh, phi chính qui, do nhiều nguyên nhân, vẫn đang đứng ngoài tầm ảnh hưởng của những đổi mới này trên nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực quan hệ lao động và xã hội.

Mối quan hệ giữa người quản lý - người lao động hoặc giữa chủ - thợ và hoạt động của Công đoàn trong các doanh nghiệp còn rất nhiều bất cập. Việc chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần đã làm thay đổi một cách căn bản mối quan hệ giữa người quản lý và người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước, hoặc giữa chủ và thợ trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Mối quan hệ này tốt hay xấu phụ thuộc rất nhiều vào trình độ tổ chức và quản lý lao động trong các loại hình doanh nghiệp. Kết quả điều tra một số doanh nghiệp ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Thái Nguyên, Đồng Nai, Đà Nẵng cho thấy: đa số các doanh nghiệp đã chú ý tổ chức và cải tiến quản lý lao động, nhất là các doanh nghiệp đã được trang bị kỹ thuật và công nghệ mới. Trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý được nâng lên một bước, gây được niềm tin với công nhân. Tuy vậy, vẫn còn một số nơi tổ chức yếu kém, quản lý không hợp lý dẫn đến sản xuất giảm sút, thu nhập của người lao động không đảm bảo, mâu thuẫn giữa người quản lý và người lao động, hoặc giữa chủ và thợ trở nên gay gắt, nhiều cuộc đình công đã nổ ra. Theo điều tra của Viện Công nhân và Công đoàn, khi được hỏi về quan hệ giữa ban lãnh đạo doanh nghiệp với công nhân: trong doanh nghiệp nhà nước có 47,81% trả lời tốt, trong đơn vị kinh tế tập thể có 33,33%, còn doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài thì chỉ có 19,41%; có tới 0,35% công nhân trong doanh nghiệp nhà nước và 2,19% công nhân trong doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài trả lời công nhân bị xúc phạm nhân cách18.

Thêm vào đó, người lao động ở Việt Nam đang trong tình trạng bị phụ thuộc quá nhiều vào người sử dụng lao động, hoặc là chủ các doanh nghiệp tư nhân hoặc là nhà nước. Nhưng, các qui định trong Bộ luật Lao động quá thiên về bảo vệ quyền lợi của người lao động, trong khi các quyền lợi chính đáng của người sử dụng lao động chưa được coi trọng đúng mức. Một khi đã thừa nhận những công ước và hướng dẫn của ILO - giới chủ sử dụng lao động là một trong ba bên tham gia vào thị trường, thì sự mất cân đối này có thể gây ra những bất bình đẳng không đáng có, làm giảm sút tác dụng khuyến khích nhà doanh nghiệp mở rộng đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh tạo thêm việc làm cho người lao động, và làm biến dạng cơ chế xã hội điều tiết thị trường lao động trên cơ sở ba bên19. Không giải quyết được hàng loạt những vấn đề lao động xã hội đã dẫn đến căng thẳng mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động, tăng các cuộc bãi công biểu tình. Theo báo cáo của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam thì số vụ đình công, bãi công của người lao động trong những năm gần đây ngày càng tăng lên và có nhiều diễn biến phức tạp.

Hàng năm, bình quân có khoảng 70 vụ đình công, xảy ra trong tất cả các loại hình doanh nghiệp - nhà nước, tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, tập trung chủ yếu ở các tỉnh, thành phố lớn, các khu công nghiệp, khu chế xuất. Tính chung trong cả nước, đến cuối năm 2002 đã có 529 vụ đình công tập thể của người lao động. Số vụ đình công tại các doanh nghiệp nhà nước chiếm 13,42%, tại các doanh nghiệp và công ty tư nhân chiếm 30,81%, tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 55,77%.

Các vụ đình công xảy ra chủ yếu ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư của Đài Loan (122 vụ, chiếm 41,36% so với tổng số trong khu vực đầu tư nước ngoài), Hàn Quốc (95 vụ, chiếm 32,2%), Hồng Công (12 vụ, chiếm 4,07%). Địa phương có nhiều vụ đình công tập thể của người lao động nhất là thành phố Hồ Chí Minh 287 vụ, chiếm 54,25% tổng số; tiếp theo đó là Bình Dương 110 vụ, chiếm 20,79%; Đồng Nai 59 vụ chiếm 11,15%20.

Hầu hết các cuộc đình công được tiến hành không theo đúng quy định của pháp luật, không do Công đoàn cơ sở tổ chức, không thông báo trước cho cơ quan quản lý lao động và người sử dụng lao động, không thông qua các bước hoà giải ở cơ sở. Nguyên nhân dẫn đến các cuộc đình công là do lợi ích kinh tế của người lao động bị vi phạm (như việc trả lương, thưởng, tăng ca, tăng giờ làm việc không đúng qui định, không thực hiện đầy đủ các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế..). Có đến 70% số vụ đình công xảy ra ở những đơn vị chưa có Công đoàn cơ sở hoặc có nhưng công đoàn ở đó không sâu sát, không nắm được tình hình thực tế hoạt động của đơn vị mình.

Nhưng nguyên nhân sâu xa của vấn đề là ở chỗ, đại bộ phận người lao động hiện nay của Việt Nam còn chưa nắm vững kiến thức pháp luật về lao động, chưa được đào tạo về kỷ luật lao động công nghiệp. Điều đó được thể hiện qua các tiêu chí mà Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đã điều tra, thể hiện ở bảng 1. Phần lớn trong số họ là lao động xuât thân từ nông nghiệp, nông thôn, còn mang nặng tác phong của một nền nông nghiệp tiểu nông, tuỳ tiện về giờ giấc và hành vi. Người lao động chưa

được trang bị các kiến thức và kỹ năng làm việc theo nhóm, không có khả năng hợp tác và gánh chịu rủi ro, ngại phát huy sáng kiến và chia sẻ kinh nghiệm làm việc. Điều này có thể thấy rõ qua hiện tượng các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (trong các khu công nghiệp, khu chế xuất), phải mất hàng tháng chỉ để đào tạo tác phong cho công nhân mới được tuyển đến làm việc cho xí nghiệp. Vì vậy, nhiều vụ việc đình công hoặc mâu thuẫn chủ - thợ tại các xí nghiệp liên doanh, xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có nguồn gốc ban đầu từ vi phạm những kỷ luật lao động công nghiệp, từ ý thức kỷ luật lao động kém của chính bản thân người lao động. Bên cạnh đó còn có nguyên nhân là do người sử dụng lao động không thực hiện đúng các qui định của pháp luật về lao động, chưa tôn trọng các quyền, lợi ích của người lao động, không ít trường hợp giới chủ tư nhân, chuyên gia người nước ngoài đã xúc phạm đến nhân phẩm người lao động.

Bảng 1: Phạm vi bao phủ của Bộ luật lao động và mức độ tuân thủ (%)

Tiêu chí điều tra

Doanh nghiệp cực nhỏ

Doanh nghiệp nhỏ

Doanh nghiệp lớn

- Người lao động biết rõ nội dung của Bộ luật

Lao động

- Người lao động không biết gì về Bộ luật lao

động

- Số doanh nghiệp phổ biến pháp luật lao động cho người lao động

- Doanh nghiệp thoả thuận lao động bằng miệng (dưới 3 tháng)

- Doanh nghiệp có đào tạo nâng cao tay nghề

cho người lao động

- Số doanh nghiệp có quĩ dự phòng mất việc làm

- Số doanh nghiệp có ký kết thoả ước lao động tập thể

- Số doanh nghiệp có Nội qui lao động

- Số doanh nghiệp có đăng ký Nội qui lao

động tại cơ quan quản lý

- Số doanh nghiệp có tổ chức công đoàn cơ sở

2,10

17,78

30,77

84,00

11,19

0,06

17,35

37,76

6,39

3,50

11,20

5,10

69,39

55,00

24,49

21,42

-

81,63

27,55

34,69

39,60

0,00

-

-

66,67

36,70

42,00

-

-

96,97

Nghiên cứu Kinh tế số 332 - Tháng 1/2006 33

Nguồn: Phạm Thị Thu Hằng. Tạo việc làm tốt bằng các chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nxb Chính trị quốc gia, H., năm 2002, tr.78.

Những bất cập của phong trào công đoàn ở Việt Nam đã làm biến dạng của cơ chế điều tiết xã hội các quan hệ lao động xã hội -sự yếu kém của Công đoàn, thiếu liên minh chặt chẽ của các nhà doanh nghiệp (không mong muốn ngồi vào bàn đàm phán khi những quyền lợi bất đồng), đã buộc Nhà nước phải xuất hiện như một điểm mấu chốt bắt buộc các bên phải nghe nhau-có nghĩa là quá trình hình thành cơ chế điều tiết các quan hệ lao động xã hội bị ép buộc theo bộ máy hành chính từ trên xuống.

Để cho cơ chế điều tiết các quan hệ lao động xã hội giữa người lao động làm thuê và người thuê lao động được thực sự phát triển ở Việt Nam, chỉ mong muốn của Công đoàn thôi chưa đủ, mà cần có những cơ sở pháp lý thích ứng và sự quan tâm của Nhà nước. Cơ chế điều tiết xã hội là một bộ máy đặc biệt.

Điều tiết những quan hệ lao động xã hội cần phải có sự hiện diện của các đối tác bình đẳng theo sức mạnh của mình - Công đoàn và các nhà doanh nghiệp, đặt ra một cơ chế thống nhất quyền lợi và giải quyết những mâu thuẫn không thể tránh khỏi xuất hiện trong quá trình điều tiết đó./.

Chú thích:

1. Trong tập I “Tư Bản” C.Marx viết rằng: “Nhà tư bản không thương xót đến sức khoẻ và đời sống của người công nhân ở khắp mọi nơi, mà xã hội không bắt buộc anh ta đến quan hệ khác”//Xem: C.Marx. Tư bản. Phê phán kinh tế chính trị. Tập I, M.,1973.tr.279.

2. Sđd. tr.246

3.Tại Anh, Mỹ và các nước khác, các văn bản pháp lý có tính chất định mức chung gọi là quy chế (quyền quy chế). Quy chế về công nhân có hiệu lực ở hàng loạt các nước (Pháp, Hà Lan) vào thế kỷ XIV đến XIX. Quy chế xác định mức lương của người công nhân, thời gian làm việc. Quy chế đầu tiên ở Anh được thông qua vào năm 1349. Nguyên nhân của việc phải thông qua quy chế về công nhân là cuộc “đại dịch hạch” đã hoành hành ở Tây Âu vào những năm 1347-1350. Khi đó thảm họa đại dịch hạch đã cướp đi mạng sống của 25 triệu người, bằng gần 1/4 tổng dân số toàn Tây Âu lúc bấy giờ. Vì vậy chính phủ buộc phải điều tiết mức lương.

4. Tại Anh, quy chế công nhân chỉ được hủy bỏ vào năm 1813, khi CNTB đã vững chắc.

5. Xem: C.Marx. Tư bản. Phê phán kinh tế chính trị. Tập 1, M., 1973, tr.280.

6. Sự khẳng định hoàn toàn quan hệ tư bản ở Tây Âu được bắt đầu sau cuộc Cách mạng ở Anh giữa thế kỷ XVIII.

7. Nước Đức sau Đại chiến thế giới Thứ hai có nguy cơ quốc hữu hoá các xí nghiệp, lúc đó chủ sở hữu của nó công khai hợp tác với những người quốc xã. Tại Mỹ khủng khoảng dầu hoả vào năm 1974 là một yếu tố bắt buộc các nhà doanh nghiệp phải ngồi vào bàn đàm phán.

8. Trong chừng mực nhất định, giải pháp áp lực này lên người lao động được áp dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp chế biến, ít hơn trong ngành khai thác, bởi vì các xí nghiệp thuộc ngành khai thác rất khó di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác.

9. Xem: Báo cáo của Tổng giám đốc phòng lao động thế giới (phần I). Những giá trị, mà chúng ta đang bảo vệ, đang thay đổi hướng tới những gì chúng ta mong muốn. M.,1994, tr.3.

10. Sđd. tr.26,27.

11. Xem: Volgin N.A. Kinh nghiệm giải quyết những vấn đề kinh tế và lao động-xã hội của Nhật Bản. M., 1997. tr.70.

12. Xem: Bộ luật Lao động của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (đã được sửa đổi và bổ sung năm 2002. Nxb Chính trị quốc gia. H., 2003. Điều 44 và 45 tr.160-161

13. Sđd, tr. 224-225

14. Xem: Báo cáo chính trị Đại hội IX Công đoàn Việt Nam. Hà Nội, ngày 11/10/2003. )

15. Xem: Otto Sick. Kinh tế, quyền lợi, chính sách. M.,1994. tr.377).

16. Xem: Lê Xuân Bá, Nguyễn Thị Kim Dung, Trần Hữu Hân. Một số vấn đề phát triển thị trường lao động ở Việt Nam. Nxb Khoa học và kỹ thuật. H, 2003, tr.147.

17. Xem: Lương Xuân Quỳ, Xây dựng quan hệ sản xuất định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện tiến bộ công bằng xã hội ở Việt Nam. NXB Chính trị quốc gia, H, 2002, tr.174. Mặc dù thời gian qua, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam đã có nhiều biện pháp nhằm xây dựng công đoàn cơ sở vững mạnh trong các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp, công ty tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Tuy vậy, cho đến nay trong khu vực doanh nghiệp nhà nước 100% đơn vị có tổ chức công đoàn cơ sở, nhưng ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh mới chỉ có khoảng 20-30% tổng số lao động tham gia Công đoàn, 30% số doanh nghiệp đủ điều kiện thành lập công đoàn cơ sở, nơi cao nhất ở TP Hồ Chí Minh cũng mới chỉ đạt 70%.

18. Xem: Dương Xuân Ngọc. Giai cấp công nhân Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội, 2004. tr.143.)

19. Sđd, tr. 148

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU KINH TẾ SỐ 1 (332) NĂM 2006

Thứ Năm, 9 tháng 7, 2009

VAI TRÒ CỦA ÁN LỆ TRONG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT HỢP ĐỒNG

PHẠM HOÀNG GIANG

Pháp luật của nhiều nước trên thế giới (trong đó có các nước theo hệ thống pháp luật Anh - Mỹ hay hệ thống pháp luật thành văn như Pháp, Đức, Ý…) thừa nhận án lệ là nguồn giải thích pháp luật và là nguồn của pháp luật trong lĩnh vực pháp luật hợp đồng.

1. Pháp luật của nhiều nước trên thế giới (trong đó có các nước theo hệ thống pháp luật Anh - Mỹ hay hệ thống pháp luật thành văn như Pháp, Đức, Ý…) thừa nhận án lệ là nguồn giải thích pháp luật và là nguồn của pháp luật trong lĩnh vực pháp luật hợp đồng. Theo pháp luật các nước này, án lệ đựơc hiểu là đường lối áp dụng của toà án về một vấn đề pháp lý đã trở thành tiền lệ mà các thẩm phán có thể theo đó để xét xử trong các trường hợp tương tự. án lệ có hai nhiệm vụ: một là giải thích và áp dụng pháp luật; hai là dự bị các cải cách pháp luật[1].

2. Ở những nước theo truyền thống án lệ, toà án không chỉ can thiệp vào quan hệ hợp đồng mà còn có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc “sáng tạo” ra pháp luật thông qua các quyết định xét xử của mình. Các quy tắc pháp luật đã được đưa ra trong một phán quyết của toà án khi xét xử một vụ việc tương tự đều có hiệu lực ràng buộc đối với thẩm phán của các toà án cùng cấp hoặc cấp dưới (trừ phán quyết của toà án sơ cấp). Phán quyết của toà án tối cao không chỉ có hiệu lực ràng buộc với các toà án sơ cấp, mà với cả toà án cao cấp có vị trí thứ bậc thấp hơn toà án đó (ví dụ: các thẩm phán xét xử độc lập của toà án cao cấp thẩm quyền chung được coi là có vị trí thứ bậc thấp hơn so với hội đồng xét xử tập thể), thậm chí đối với cả toà án cùng cấp với toà án đó. Tuy nhiên, thẩm phán có thể không áp dụng quy tắc tiền lệ này trong trường hợp họ cho rằng, các tình tiết của vụ án mình đang xét xử không giống với các tình tiết trong vụ án đã xét xử trước đó (gọi là phương thức phân biệt). Ngay cả trong trường hợp các tình tiết được coi là giống nhau, thẩm phán cũng có quyền không chịu sự ràng buộc của một quy tắc tiền lệ đã được lập ra trong một phán quyết ban hành trước đó, nếu cho rằng quy tắc đó không phải là một căn cứ có tính chất quyết định (ratio decidendi), đặc biệt là trong trường hợp căn cứ đó chỉ có tính chất bổ sung (obiter dictum), còn đang được tranh cãi hay trong trường hợp quy tắc được đưa ra vượt quá khuôn khổ của vụ việc cần xét xử[2]. Với vai trò của án lệ như vậy, toà án có vai trò quan trọng trong việc hình thành nên pháp luật hợp đồng thông qua hoạt động xét xử.

Ngoài việc thừa nhận nguyên tắc tiền lệ là nguồn của pháp luật hợp đồng, pháp luật các nước theo truyền thống án lệ còn thừa nhận quy tắc giải thích luật. Theo quy tắc này, tuỳ theo mức độ không rõ ràng của văn bản luật, toà án có quyền giải thích luật theo các cách sau:

Một là, cách giải thích theo câu chữ. Theo đó, việc giải thích chỉ căn cứ vào câu chữ trong văn bản pháp luật, tức là căn cứ vào câu chữ của quy phạm cần giải thích và ngữ cảnh của quy phạm đó.

Hai là, cách giải thích căn cứ vào mục đích điều chỉnh của quy phạm. Theo đó, toà án sẽ căn cứ vào mục đích của nhà làm luật muốn đạt được khi xây dựng quy phạm.

Ba là, cách giải thích trung gian, gọi là quy tắc vàng (golden rule). Theo đó, khi giải thích, toà án phải căn cứ vào câu chữ của luật, trừ trường hợp nếu giải thích như vậy có thể dẫn đến một kết quả phi lý hoặc không công bằng mà nhà làm luật chắc chắn không muốn khi ban hành quy phạm đó[3].

Quy định về nguyên tắc tiền lệ và quy tắc giải thích pháp luật ở các nước theo hệ thống luật án lệ có ưu điểm là tạo cho thẩm phán vai trò chủ độngQ, sáng tạo trong quá trình áp dụng pháp luật (các vụ việc luôn được toà án thụ lý giải quyết, ngay cả khi pháp luật thiếu các quy định điều chỉnh), nhằm bảo đảm quyền lợi của các bên, bảo vệ sự công bằng, công lý trong quan hệ hợp đồng. Tuy nhiên, với việc trao cho thẩm phán thẩm quyền lớn như vậy sẽ có khả năng dẫn đến nguy cơ thẩm phán vừa là người tạo ra luật, vừa là người áp dụng pháp luật. Như thế sẽ ảnh hưởng đến nguyên tắc độc lập xét xử của toà án và dẫn đến tình trạng cơ quan tư pháp “lấn át” quyền lập pháp.

3. ở các nước theo truyền thống pháp luật thành văn (như Pháp, Đức), vào thời kỳ đầu, toà án căn cứ vào quan niệm truyền thống về nguyên tắc tự do ý chí trong giao kết hợp đồng (một khi hợp đồng được ký kết hợp pháp thì các điều khoản hợp đồng có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên), nên không can thiệp vào quan hệ hợp đồng. Trong trường hợp này, hợp đồng có hiệu lực bắt buộc ngay cả đối với các cơ quan công quyền, nghĩa là khi xét xử, giải thích hợp đồng, toà án, các cơ quan nhà nước phải tôn trọng ý chí, thoả thuận của các bên, không được huỷ bỏ, sửa đổi hay giải thích nội dung hợp đồng khác với ý chí của các bên trong hợp đồng. Nguyên tắc này trước đây đã từng được pháp luật hợp đồng một số nước quy định, ví dụ Điều 1134 Bộ luật Dân sự của Pháp năm 1804 quy định “Hợp đồng được giao kết hợp pháp có giá trị là luật đối với các bên giao kết”. Theo tinh thần của quy định này, thẩm phán không có quyền sửa đổi, bổ sung hợp đồng trong trường hợp phát sinh tình huống ngoài dự kiến. Nguyên tắc này dẫn đến một hệ quả là toà án không thể can thiệp vào hợp đồng, ngay cả khi nội dung hợp đồng có những điều khoản bất hợp lý so với thực tế thực hiện hợp đồng.

Tuy nhiên, kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất và thứ hai, do sự thay đổi của các điều kiện kinh tế - xã hội sau chiến tranh, pháp luật hợp đồng của Pháp đã thừa nhận cho thẩm phán quyền can thiệp, sửa đổi nội dung hợp đồng, nếu trong quá trình thực hiện hợp đồng phát sinh những tình huống (các bên đã không dự kiến trong hợp đồng) gây khó khăn cho một bên trong qua trình thực hiện hợp đồng[4]. Ví dụ, Luật Faillot ngày 21/01/1918 quy định toà án có quyền can thiệp sửa đổi, bổ sung hợp đồng trong trường hợp việc thực hiện hợp đồng gặp khó khăn do tình hình kinh tế thay đổi. Luật ngày 11/3/1957 quy định đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền khai thác tác phẩm văn học, nghệ thuật, thẩm phán được quyền can thiệp để điều chỉnh mức giá chuyển nhượng theo hướng tăng lên. Theo pháp luật hợp đồng của Đức, nếu có những thay đổi lớn về bối cảnh của nền kinh tế làm mất đi căn cứ, nền tảng của hợp đồng, thì toà án có thể sửa đổi hợp đồng cho phù hợp (Toà án liên bang, ngày 28/11/1923, thuyết về trường hợp không dự tính được). Ngoài ra, theo Luật hợp đồng của Đức, các thẩm phán trên cơ sở căn cứ vào nguyên tắc ngay tình trong giao kết và thực hiện hợp đồng (quy định tại Điều 157 và Điều 242 của Bộ luật Dân sự), có thể giải thích các điều khoản hợp đồng theo hướng buộc các bên ký kết hợp đồng phải thực hiện thêm nhiều nghĩa vụ khác ngoài nội dung thoả thuận hợp đồng, nhất là các nghĩa vụ như: nghĩa vụ bảo đảm an toàn, nghĩa vụ thông tin và tư vấn… Trong trường hợp một bên vi phạm nguyên tắc này, hợp đồng có thể bị tuyên bố vô hiệu[5]. Pháp luật một số nước cũng có quy định tương tự như Đức. Ví dụ: Điều 451 Bộ luật Dân sự Liên bang Nga quy định toà án có thể sửa đổi hợp đồng trong những trường hợp đặc biệt. ở Pháp, thẩm phán có thể giải thích, sửa đổi các điều khoản hợp đồng trên cơ sở căn cứ vào “nguyên tắc ngay tình”, “nguyên tắc công bằng” trong giao kết hợp đồng để tuyên bố vô hiệu hoặc sửa đổi, bổ sung các điều khoản hợp đồng vi phạm nguyên tắc này.

Việc thừa nhận án lệ là nguồn bổ trợ của pháp luật hợp đồng và toà án có quyền can thiệp vào hợp đồng thông qua quyền giải thích, sửa đổi nội dung hợp đồng nhằm mục đích bảo đảm công bằng về lợi ích kinh tế giữa các bên trong giao kết hợp đồng, chống lại các hành vi lạm dụng quyền tự do hợp đồng của bên thế mạnh đối với bên thế yếu trong quan hệ hợp đồng, đã làm cho pháp luật hợp đồng ở các nước này luôn phát triển thích ứng với những thay đổi của điều kiện kinh tế - xã hội. Đây cũng là lý do chứng minh cho sự tồn tại ổn định của các quy định về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự của Pháp trong hơn 200 năm qua.

Ngoài ra, trong trường hợp hợp đồng được giao kết trái với các quy định của pháp luật (ví dụ: hợp đồng mua bán các đối tượng bị pháp luật cấm), toà án có thẩm quyền can thiệp vào quan hệ hợp đồng thông qua việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu (vô hiệu toàn bộ hoặc vô hiệu từng phần) hoặc sửa đổi, bổ sung các điều khoản hợp đồng mà các bên đã thoả thuận không phù hợp quy định của pháp luật.

4. Đối với Việt Nam, việc quy định cho toà án quyền giải thích pháp luật trong hoạt động xét xử đối với lĩnh vực pháp luật hợp đồng chưa được pháp luật quy định cụ thể. Vì vậy, việc thừa nhận vai trò của án lệ trong việc giải thích pháp luật và là nguồn bổ trợ trong lĩnh vực pháp luật về hợp đồng là hết sức cần thiết. Bởi vì nhà làm luật không thể dự liệu hết mọi trường hợp có thể xảy ra trong thực tế, do đó cần phải giải thích luật. Yêu cầu giải thích pháp luật càng quan trọng và có ý nghĩa khi pháp luật chỉ đưa ra các nguyên tắc chung, hoặc khi pháp luật quy định không cụ thể, rõ ràng hoặc có những thiếu sót. Việc giải thích pháp luật là để đáp ứng yêu cầu điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ xã hội, bảo vệ lợi ích của các chủ thể liên quan cũng như bảo đảm công bằng trong trong quan hệ hợp đồng. Đối với yêu cầu thống nhất hệ thống pháp luật, hoạt động giải thích pháp luật còn có tác dụng bảo đảm tính thống nhất trong hoạt động giải thích và áp dụng áp luật. Để bảo đảm yêu cầu này, hoạt động giải thích pháp luật phải được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Theo quy định của Hiến pháp (Điều 91) và Luật Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật (Điều 52), thì Uỷ ban thường vụ Quốc hội là cơ quan có thẩm quyền giải thích luật, pháp lệnh. Nhưng cơ quan này trên thực tế không có thời gian dành cho hoạt động giải thích pháp luật cho mỗi trường hợp cụ thể trong đời sống xã hội. Trong thực tiễn, hiếm khi thấy Uỷ ban thường vụ Quốc hội tiến hành giải thích pháp luật. Do vậy, quy định Uỷ ban thường vụ Quốc hội là cơ quan có thẩm quyền giải thích luật, pháp lệnh không có tính khả thi trên thực tế. Ngoài ra, ngoài luật, pháp lệnh thì cũng còn nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác cũng cần được giải thích khi áp dụng trong thực tế, nhưng pháp luật nước ta chưa quy định cơ quan có thẩm quyền giải thích những văn bản pháp luật này. Vậy cần phải quy định cho cơ quan nào có thẩm quyền giải thích văn bản quy phạm pháp luật?

Hiện nay ở nước ta, trong giới khoa học pháp lý có nhiều quan điểm không thống nhất nhau về vai trò của án lệ như một nguồn của luật. Có quan điểm cho rằng, nhiệm vụ của toà án là giải thích luật, do đó cũng có quyền tạo ra các quy phạm pháp luật trong quá trình giải thích và áp dụng pháp luật trong chừng mực các quy phạm ấy không trái luật. Quan điểm khác cho rằng, toà án chỉ có quyền áp dụng pháp luật và tập quán, các bản án của toà án phải căn cứ vào quy định của pháp luật, vì vậy, toà án không có quyền tạo ra luật. Ngoài ra, cũng có quan điểm cho rằng, việc tranh luận trên chỉ có tính lý thuyết và không mang lại lợi ích trong qua trình áp dụng pháp luật. Ngày nay, án lệ có vai trò quan trọng trong hoạt động giải thích luật với tư cách là một nguồn của luật được nhiều nước thừa nhận bởi các lợi ích của nó trong hoạt động áp dụng và hoàn thiện pháp luật.

Chúng tôi cho rằng, quan điểm thứ ba nêu trên rất đáng coi trọng. Về nguyên tắc, án lệ không phải là pháp luật, nên không có hiệu lực áp dụng chung đối với toà án cấp dưới; bởi vì, toà án chỉ có quyền áp dụng pháp luật chứ không có quyền làm ra luật, nếu không thì sẽ “lấn sân” của cơ quan lập pháp. Nhưng hoạt động áp dụng pháp luật của toà án là hoạt động đòi hỏi sự sáng tạo, nhất là trong trường hợp pháp luật không quy định hoặc quy định không cụ thể hay có những quy định mâu thuẫn. Vì vậy, những bản án của Toà án nhân dân tối cao nếu có tình, có lý và được áp dụng nhiều lần, thì nó sẽ có tính thuyết phục và sẽ được toà án cấp dưới xem xét áp dụng theo. Vì vậy, án lệ của Toà án nhân dân tối cao cần được thừa nhận là nguồn quan trọng của luật trong lĩnh vực hợp đồng.

Với vai trò là nguồn của luật, án lệ cũng cần được coi là nguồn quan trọng trong giải thích pháp luật, bởi lẽ, hoạt động xét xử của toà án luôn đòi hỏi phải thích ứng với sự thay đổi của đời sống xã hội. Mỗi khi các điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi, làm cho pháp luật trở lên không còn thích hợp nữa, thì trước khi chờ đợi các nhà làm luật sửa đổi, bổ sung pháp luật cho phù hợp, đòi hỏi thẩm phán phải hết sức sáng tạo trong giải thích và áp dụng pháp luật để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Vì vậy, án lệ nhiều khi phải giải thích pháp luật vượt ra ngoài phạm vi, ý nghĩa ban đầu của các quy phạm pháp luật để bảo vệ công lý và công bằng, đảm bảo cho bản án có tình, có lý. Như vậy, trước khi thực hiện cải cách, sửa đổi pháp luật, án lệ có một vai trò quan trọng trong việc thử nghiệm và đi tiên phong trong việc cải cách đó. Với vai trò quan trọng như vậy, tại hầu hết các nước theo hệ thống pháp luật Anh - Mỹ và các nước theo hệ thống pháp luật thành văn (như Pháp, Đức…), người ta đều thừa nhận án lệ có vai trò giải thích pháp luật. ở các nước này, toà án thường thực hiện công việc sưu tập các bản án tiêu biểu, điển hình thành những tập án lệ, phục vụ cho hoạt động áp dụng pháp luật và hoạt động nghiên cứu, lập pháp[6].

Tuy nhiên, không phải bất cứ bản án nào của toà án cũng là án lệ. Trong hệ thống toà án ở nước ta hiện nay, các toà án cấp huyện, tỉnh có thẩm quyền xét xử sơ thẩm, bản án của các toà án cấp sơ thẩm có thể bị kháng cáo lên xét xử theo theo tục phúc thẩm và bản án phúc thẩm có thể bị kháng nghị xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm bởi Toà án nhân dân tối cao. Vì vậy, chỉ các bản án xét xử giám đốc thẩm của Toà án nhân dân tối cao mới được coi là án lệ

5. Việc thừa nhận vai trò giải thích pháp luật của thẩm phán và của toà án thông qua án lệ có một ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật hợp đồng, bảo đảm tính thống nhất, bảo đảm quyền tự do hợp đồng trong hoạt động thương mại. Để thực hiện việc này, về mặt lập pháp, cần quy định nguyên tắc thừa nhận án lệ là nguồn giải thích pháp luật. Về mặt thực tiễn, đòi hỏi chúng ta phải thực hiện thường xuyên việc sưu tập, chọn lọc, in ấn, phổ biến các bản án tiêu biểu, điển hình của Toà án nhân dân tối cao để phục vụ cho hoạt động áp dụng pháp luật và công tác xét xử của toà án các cấp.

===================

[1] Nguyễn Mạnh Bách, Luật Dân sự Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.64.

[2] Michel Fromont, Các hệ thống pháp luật cơ bản trên thế giới, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2001, tr.148 -149.

[3] Michel Fromont, sdd tr 152.

[4] Corinne Renault - Branhinsky, Đại cương về pháp luật hợp đồng, NXB Văn hoá - Thông tin,Hµ Néi, 2000, tr 90-91.

[5] Michel Fromont, sdd tr 66.

[6] Xem Nhà pháp luật Việt – Pháp, 1997, Kỷ yếu Hội thảo sự phát triển của pháp luật dân sự và thương mại, Hà Nội.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT SỐ 91, THÁNG 2 NĂM 2007

Thứ Hai, 6 tháng 7, 2009

THỰC HIỆN NGHĨA VỤ HỢP ĐỒNG TRÊN THỰC TẾ

NGUYỄN NGỌC KHÁNH

Về bản chất, nghĩa vụ hợp đồng là quan hệ tạm thời, và thậm chí là quan hệ ngắn hạn phải được chấm dứt vào một lúc nào đó. Phương thức thông thường nhất để chấm dứt nghĩa vụ hợp đồng là việc thực hiện đúng và đầy đủ hợp đồng[1]. ở nước ta, khi thực hiện hợp đồng, các bên không những chịu sự điều chỉnh trực tiếp của những quy định chung tại mục 7 Chương XVII, Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS 2005) về thực hiện hợp đồng (từ Điều 412 đến Điều 422), mà còn phải tuân thủ những quy định chung tại mục 2 Chương XVII, BLDS 2005 về thực hiện nghĩa vụ dân sự (từ Điều 283 - Điều 301) và những quy định riêng của BLDS 2005 về thực hiện những hợp đồng thông dụng.

1. Đánh giá kết quả thực hiện hợp đồng

Khi đánh giá kết quả thực hiện hợp đồng, từ phía người có thẩm quyền bao giờ cũng nảy sinh hai câu hỏi độc lập: người có nghĩa vụ đã thực hiện những hành vi hai bên cam kết chưa? Nếu có, thì đã thực hiện như thế nào và có đúng không?[2] Trường hợp thứ nhất là nói về việc thực hiện những hành vi (hoặc không được thực hiện những hành vi) thuộc đối tượng của hợp đồng - hay còn gọi là việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng trên thực tế (NVHĐTT); trường hợp thứ hai là nói về “chất lượng” thực hiện nghĩa vụ đến đâu, tức là việc bên có nghĩa vụ có tuân thủ đúng hay không đúng các điều kiện về nghĩa vụ mà hai bên đã thỏa thuận (hoặc pháp luật có quy định), như: điều kiện về đối tượng, điều kiện về địa điểm, điều kiện về thời hạn, điều kiện về phương thức thực hiện … Nếu tuân thủ đúng các điều kiện này, có thể nói rằng, bên có nghĩa vụ đã thực hiện NVHĐTT và đồng thời thực hiện đúng nghĩa vụ. Ngược lại, nếu các điều kiện về nghĩa vụ không được tuân thủ nghiêm ngặt, bên có nghĩa vụ dù đã thực hiện những hành vi thuộc đối tượng của hợp đồng vẫn sẽ bị coi là thực hiện không đúng nghĩa vụ. Dựa trên sự khác biệt giữa hai trường hợp này, pháp luật nhiều nước nhìn chung đều thừa nhận vị trí riêng biệt của việc thực hiện NVHĐTT và việc thực hiện đúng nghĩa vụ. Điều này được thể hiện rất rõ trong thực tiễn xét xử cũng như trong luật thực định các nước như Anh, Nga, Đức …

Trong chế định hợp đồng của những nước này có sự phân biệt trường hợp thực hiện NVHĐTT và trường hợp thực hiện đúng nghĩa vụ. Khi một bên không thực hiện NVHĐTT hoặc tuy có thực hiện, nhưng thực hiện không đúng nghĩa vụ, thì có thể phải chịu những chế tài và hậu quả pháp lý khác nhau. ở nước ta, quan điểm về sự phân biệt giữa thực hiện NVHĐTT và thực hiện đúng nghĩa vụ cũng đã được BLDS 2005 đặt ra ở một mức độ nhất định (dù chưa được thể hiện một cách hệ thống và rõ ràng). Chẳng hạn, theo quy định tại khoản 1 Điều 302 BLDS 2005, trách nhiệm dân sự cũng được phân chia thành hai trường hợp, đó là trách nhiệm do không thực hiện NVHĐTT và trách nhiệm do thực hiện không đúng nghĩa vụ. Hoặc theo quy định tại Điều 303 BLDS 2005, các nhà làm luật cũng phân biệt hai tình huống: khi bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ giao vật đặc định (tức là khi không thực hiện NVHĐTT, người có quyền có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ phải giao đúng vật; nếu giao vật bị hư hỏng (tức là khi bên có nghĩa vụ thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng), thì bên có nghĩa vụ phải thanh toán giá trị của vật, và bồi thường thiệt hại cho bên có quyền v.v..

2. Nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng trên thực tế

Nguyên tắc thực hiện NVHĐTT đòi hỏi người có nghĩa vụ (con nợ) tự nguyện thi hành những hành vi (hoặc không được thực hiện những hành vi) thuộc đối tượng của hợp đồng (như chuyển giao vật, chuyển giao quyền, thực hiện một công việc nhất định …) mà không được phép tùy tiện thay thế nghĩa vụ bằng việc trả một khoản tiền tương đương. Để bảo đảm cho nguyên tắc thực hiện NVHĐTT, bộ luật dân sự nhiều nước theo truyền thống civil law như Đức, Nga, Nhật Bản … đều thiết lập một nguyên tắc chung, theo đó, việc trả tiền phạt vi phạm và (hoặc) bồi thường thiệt hại do thực hiện không đúng nghĩa vụ không đương nhiên miễn trừ việc tiếp tục thi hành nghĩa vụ trên thực tế đối với con nợ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Ví dụ, nếu hai bên không có thỏa thuận khác, thì việc bồi thường thiệt hại không đương nhiên giải phóng con nợ khỏi nghĩa vụ chuyển giao chiếc bình cổ có tỳ vết (do lỗi của con nợ) cho người có quyền (chủ nợ); hoặc nếu quá thời hạn mà nghĩa vụ xây nhà vẫn chưa hoàn thành, thì việc thanh toán khoản tiền phạt vi phạm hoặc (và) bồi thường thiệt hại cũng không đương nhiên miễn trừ cho con nợ trách nhiệm phải tiếp tục xây nhà (tất nhiên là trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác)…

Nguyên tắc thực hiện NVHĐTT mang tính bắt buộc song hết sức linh hoạt, uyển chuyển. Điều đó lý giải tại sao đi kèm với nguyên tắc thực hiện NVHĐTT, bộ luật dân sự các nước thường sử dụng cụm từ “trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”. ở đây, cụm từ “pháp luật có quy định khác” hàm ý: nếu pháp luật không có quy định, chủ nợ có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp cưỡng chế buộc con nợ phải thi hành NVHĐTT (cho dù con nợ đã bồi thường thiệt hại); ngược lại, nếu “pháp luật có quy định khác” thì thay vì yêu cầu cưỡng chế thực hiện NVHĐTT, chủ nợ chỉ có thể tự mình thực hiện thay hoặc giao cho người khác thực hiện thay nghĩa vụ đó, hoặc yêu cầu Tòa án buộc con nợ trả tiền phạt vi phạm hoặc và (hoặc) bồi thường thiệt hại do NVHĐTT không được con nợ tự nguyện thi hành, hoặc thi hành không đúng, không đầy đủ.

3. Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ hợp đồng trên thực tế

Tiêu chí xác định và trường hợp chủ nợ không có quyền yêu cầu Toà án cưỡng chế thi hành NVHĐTT là: thứ nhất, lẽ đương nhiên, Toà án không thể ra phán quyết buộc con nợ thi hành NVHĐTT nếu nghĩa vụ đó trở nên không thể thực hiện được sau khi các bên đã ký kết hợp đồng (không quan trọng đó là vì lý do khách quan hay vì lý do chủ quan). Chẳng hạn, khi lọ hoa cổ bị mất, khi bức tranh của họa sĩ nổi tiếng thời xưa bị tiêu hủy, khi hàng hóa không thể xuất khẩu do nhà nước ban hành lệnh cấm xuất khẩu mặt hàng đó sau khi hợp đồng đã ký kết, hoặc khi người nghệ sĩ xiếc bị ốm và bị bác sĩ cấm biểu diễn, Tòa án không được phép ra phán quyết cưỡng chế thi hành NVHĐTT. Ngoài ra, theo luật của Đức, cũng được coi là nghĩa vụ trở nên không thể thực hiện được, nếu căn cứ vào bản chất, nội dung của quan hệ hợp đồng, việc thực hiện nghĩa vụ trên thực tế chỉ có ý nghĩa khi nó được thực hiện đúng (hoặc trong) thời hạn đã định. Ví dụ, khi bánh ga -tô phải hoàn thành trước lễ cưới, khi người ca sĩ phải biểu diễn vào đúng đêm giao thừa, hoặc khi chiếc váy phải được may trước cuộc thi hoa hậu, thì trong trường hợp quá hạn mà nghĩa vụ chưa được thực hiện hoặc mới chỉ được thực hiện một phần, quyền yêu cầu Tòa án cưỡng chế thi hành NVHĐTT cũng bị loại trừ[3]. Thứ hai,xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng quyền tự do và các giá trị nhân thân của con người, pháp luật các nước không thừa nhận việc cưỡng chế thi hành NVHĐTT bằng mọi giá mà không có bất cứ sự hạn chế nào. Nếu đối với các nghĩa vụ như trả tiền, chuyển giao tài sản nhất định hay chuyển giao quyền có thể cưỡng chế thi hành được, thì đối với những nghĩa vụ liên quan đến quyền tự do và các giá trị nhân thân khác của cá nhân người mắc nợ, theo nguyên tắc chung, pháp luật không cho phép cưỡng chế thi hành đối với những loại nghĩa vụ này. Chẳng hạn, không thể căn cứ vào hợp đồng đã giao kết để cưỡng chế một nhạc sĩ sáng tác một bài hát, hay một học giả viết một cuốn giáo trình, hoặc một nhà văn hoàn thành một cuốn tiểu thuyết, vì việc sáng tạo những tác phẩm này còn phụ thuộc vào chính ý chí của người mắc nợ cũng như các phẩm chất trí tuệ, tâm trạng, năng lực tập trung và nhiều yếu tố nhân thân khác.

Trong các tình huống nêu trên, chủ nợ chỉ có thể thỏa mãn những đòi hỏi của mình bằng cách tự mình thực hiện thay hoặc giao cho người khác thực hiện thay nghĩa vụ, hoặc đưa ra yêu cầu trả tiền phạt vi phạm và (hoặc) bồi thường thiệt hại do người mắc nợ không thực hiện (hoặc không thể thực hiện) NVHĐTT.

Nếu ở các nước theo truyền thống civil law, về nguyên tắc, chủ nợ có quyền yêu cầu Tòa án cưỡng chế thi hành NVHĐTT, thì ở các nước theo truyền thống thông luật common law, nhất là ở Anh, Mỹ, các luật gia lại có quan điểm ngược lại. Ngay vào thế kỷ XIX, luật gia Anh, O.W. Holmes, trong cuốn “The common law (1881)” đã khẳng định, hậu quả pháp lý duy nhất và bao quát cho mọi trường hợp nghĩa vụ không được thực hiện, đó là luật cần bắt buộc người có nghĩa vụ phải trả tiền bồi thường thiệt hại. Do đó, có thể nói, trong hệ thống thông luật common law, việc cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trên thực tế luôn được coi là ngoại lệ.

Điều kiện chấp nhận cưỡng chế thi hành NVHĐTT: Để Tòa án chấp nhận yêu cầu cưỡng chế thi hành NVHĐTT, vụ việc tranh chấp phải thỏa mãn một hoặc một số điều kiện nhất định. Theo TS. Konrad Zweigert và TS. Hein Kotz trong cuốn “Nhập môn so sánh trong lĩnh vực luật tư (1998)”, điều kiện quan trọng nhất để Tòa án có thể ra phán quyết cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trên thực tế là, khi Tòa án thấy rằng, khoản tiền bồi thường sẽ “không thích hợp” vì lợi ích của chủ nợ rõ ràng không thể xác định ngang giá bằng tiền. Ví dụ, đối với hợp đồng mua bán một mảnh đất cụ thể ở một vị trí cụ thể, lợi ích của người mua rất khó xác định một cách “thích hợp” bằng tiền, do đó, Tòa án có thể cưỡng chế người bán chuyển giao quyền sở hữu mảnh đất cho người mua. Cũng như vậy, đối với hàng hóa đặc định hoặc được cá biệt hóa (specific or ascertained goods - mục 52 Luật về bán hàng hóa năm 1979 - Sale of Goods Act 1979), việc yêu cầu cưỡng chế bên bán giao hàng cũng có thể được Tòa án chấp nhận. Tuy nhiên, cần lưu ý là, quy tắc này không loại trừ một số trường hợp, Tòa án vẫn có thể ra phán quyết cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trên thực tế đối với cả hợp đồng mua bán hàng hóa là vật cùng loại (Xem hộp 1).

Hộp 1

Trong vụ kiện năm 1974 về việc bên bán đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng mua bán xăng dầu dài hạn giữa công ty Sky Petroleum - bên mua và công ty V.I.P. Petroleum - bên bán, theo yêu cầu của bên mua là công ty Sky Petroleum, Tòa án đã bác phương án bồi thường thiệt hại của bên bán là công ty V.I.P. Petroleum và quyết định buộc bên này phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ bán xăng dầu cho bên mua, với lý do: tuy xăng dầu là vật cùng loại nhưng vì đang trong giai đoạn khủng hoảng, nên bên mua gần như không thể có khả năng mua xăng dầu từ nguồn cung cấp khác (K. Zweigert, H. Kotz Sđd, p. 212, 213).

Tiêu chí kế tiếp mà các Tòa án Anh - Mỹ cũng thường dựa vào để ra phán quyết cưỡng chế thi hành NVHĐTT là: khi Tòa án thấy rằng việc bắt buộc thi hành nghĩa vụ trên thực tế sẽ dẫn đến kết quả như mong muốn hoặc (và) có thể kiểm soát được. Nếu kết luận rằng, việc xác định sự kiện không thực hiện nghĩa vụ hoặc có thể rất khó khăn, hoặc có thể đòi hỏi quá nhiều thời gian không cần thiết, hoặc có thể bị trì hoãn hàng năm trời do kéo dài thời hạn thực hiện, thì căn cứ vào những tình tiết này, Tòa án có thể bác yêu cầu cưỡng chế thi hành NVHĐTT. Chẳng hạn, đơn kiện yêu cầu cưỡng chế thi hành nghĩa vụ hợp đồng thầu xây dựng những công trình lớn sẽ khó được chấp nhận, bởi vì việc cưỡng chế thực hiện những công việc này đòi hỏi phải có sự giám sát thường xuyên và lâu dài của Tòa án (constant superintendance by the court).

Ngoài ra, để việc thi hành NVHĐTT có thể được cưỡng chế, thì cũng như ở các nước theo truyền thống civil Law, ở Anh, Mỹ những nghĩa vụ đó phải là những nghĩa vụ không trực tiếp gắn với nhân thân của người mắc nợ. Theo các thẩm phán Anh, Mỹ, ít nhất có hai lý do không nên cưỡng chế thi hành những nghĩa vụ hợp đồng trực tiếp gắn với nhân thân của người mắc nợ: một là, không nên buộc cá nhân một người phải làm “nô lệ” trái với ý chí của họ; và hai là, giải pháp cưỡng chế thi hành chưa chắc đã đem lại kết quả như mong muốn. Đó cũng là lý do Tòa án viện dẫn trong một vụ kiện khi xử không chấp nhận yêu cầu bắt buộc người ca sĩ phải biểu diễn một chương trình ca nhạc. Trong trường hợp này, giải pháp hiệu quả nhất mà Tòa án có thể làm là ra lệnh cấm (injunction) người ca sĩ đó biểu diễn trong chương trình ca nhạc khác do các đối thủ cạnh tranh của nguyên đơn tổ chức, tất nhiên là với điều kiện: trong hợp đồng biểu diễn ca nhạc ban đầu phải có thỏa thuận rằng, ca sĩ chỉ được biểu diễn trong những chương trình ca nhạc do nguyên đơn đứng ra tổ chức[4].

Tương tự như vậy, theo quy định tại Điều 7.2.2 Bộ nguyên tắc của Unidroit về Hợp đồng thương mại quốc tế 2004, thì một nghĩa vụ cũng không thể cưỡng chế thực hiện trên thực tế nếu việc thực hiện nghĩa vụ đó mang tính tuyệt đối cá nhân. Nghĩa vụ mang tính tuyệt đối cá nhân nếu nó không thể được giao cho cá nhân khác thực hiện và nếu nó đòi hỏi những khả năng cá biệt mang tính nghệ thuật hay khoa học, hoặc có liên quan đến một quan hệ mật thiết và riêng tư. Không được coi là nghĩa vụ mang tính tuyệt đối cá nhân nếu đó là các hoạt động thông thường của luật sư, bác sĩ hay kỹ sư, bởi vì, chúng có thể được chuyển giao và được thực hiện bởi người khác có cùng chất lượng đào tạo và kinh nghiệm (Xem hộp 2)

Hộp 2

“Nếu một công ty kiến trúc cam kết thiết kế một dãy ngôi nhà riêng, thì nghĩa vụ này có thể bị cưỡng chế bắt buộc thực hiện vì công ty này có thể giao phó nhiệm vụ đó cho một thành viên bất kỳ của công ty hoặc một kiến trúc sư khác thực hiện. Tuy nhiên, nếu một kiến trúc sư nổi tiếng cam kết thiết kế ngôi nhà tòa thị chính mới mang biểu tượng của một thành phố của thế kỷ XXI, thì nghĩa vụ đó sẽ không thể được cưỡng chế bắt buộc thực hiện trái với ý chí của người kiến trúc sư, bởi vì công việc này không chỉ mang tính độc nhất mà nó còn đòi hỏi một số khả năng đặc biệt” (Bộ nguyên tắc của Unidroit về Hợp đồng thương mại quốc tế 2004, Nxb. Tư pháp, Hà Nội - 2005, tr. 336)

Từ những điều trên đây cho thấy, dù thuộc về các hệ thống pháp luật khác nhau, song pháp luật các nước đều nhìn nhận sự cần thiết phải điều chỉnh vấn đề thi hành NVHĐTT. Do đó, các hệ thống pháp luật của Anh, Mỹ, Đức, Nga… đều đưa ra các căn cứ (hoặc các điều kiện) làm cơ sở cho việc xác định những trường hợp nào yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trên thực tế có thể được Tòa án bảo vệ, những trường hợp nào bên có quyền chỉ có thể tự mình thực hiện thay hoặc giao cho người khác thực hiện thay nghĩa vụ, hoặc đòi trả tiền phạt vi phạm và (hoặc) bồi thường thiệt hại do bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng (Xem hộp 3).

Hộp 3

Năm 1950, tại Pháp, có bị đơn đã giao kết hợp đồng mua một mảnh đất của nguyên đơn với điều kiện bị đơn phải có nghĩa vụ chăm sóc thường xuyên và suốt đời cho nguyên đơn, bao gồm cả nghĩa vụ cấp dưỡng bằng một khoản tiền và nghĩa vụ chăm sóc sức khỏe, nghĩa vụ cung cấp thực phẩm ăn uống và quần áo. Sau một thời gian, do có bất hòa không thể hòa giải, bị đơn từ chối tiếp tục thực hiện nghĩa vụ chăm sóc suốt đời. Nguyên đơn kiện ra tòa yêu cầu bị đơn tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hoặc nếu không thì hủy hợp đồng. Xét thấy không thể cưỡng chế thi hành trên thực tế nghĩa vụ chăm sóc suốt đời sau khi hai bên đã có bất hòa trầm trọng, Tòa án cả hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm đều đưa ra phán quyết tuyên buộc bị đơn, thay vì thực hiện toàn bộ NVHĐTT, phải đền bù cho nguyên đơn một khoản tiền trị giá tương đương với nghĩa vụ chăm sóc suốt đời. (K. Zweigert, H. Kotz Sđd, tr. 233.)

4. Thực hiện nghĩa vụ hợp đồng trên thực tế theo Bộ luật Dân sự năm 2005

Trong BLDS 2005, nguyên tắc nghĩa vụ hợp đồng phải được thi hành trên thực tế ban đầu đã được khẳng định một cách khái quát thông qua một quy định gián tiếp tại khoản 1 Điều 302: “Bên có nghĩa vụ mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự với người có quyền”. Tuy nhiên, khi cụ thể hóa nguyên tắc này (tại các Điều 303, 304, 305), các nhà làm luật lại đưa ra những quy định bất hợp lý và không nhất quán đến mức khó hiểu. Chẳng hạn, theo quy định của Điều 303 BLDS 2005, khi vật đặc định cần chuyển giao bị hư hỏng thì chủ nợ chỉ có quyền yêu cầu thanh toán giá trị của vật và bồi thường thiệt hại (nếu có). ở đây, không hiểu tại sao Điều 303 BLDS 2005 lại tước bỏ quyền của chủ nợ được tự mình lựa chọn phương án yêu cầu người mắc nợ thực hiện nghĩa vụ giao vật đặc định (dù bị hư hỏng), đồng thời bồi thường thiệt hại, khi quyền đó là logic thông thường và đơn giản nhất của cuộc sống! Hoặc như quy định tại khoản 1 Điều 304 BLDS 2005 cũng chưa hợp lý khi cho phép bên có quyền có thể yêu cầu Tòa án cưỡng chế bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện một công việc nhất định, cho dù công việc đó trực tiếp gắn với nhân thân của người có nghĩa vụ (tại các Điều 55, 56 Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 cũng cho phép cưỡng chế thi hành nghĩa vụ buộc làm công việc nhất định - mà không loại trừ công việc trực tiếp gắn với nhân thân của người phải thi hành án - nếu không thực hiện thì bị xử phạt hành chính và thậm chí có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự). Vấn đề đặt ra là, nếu cưỡng chế một nhạc sĩ sáng tác một bài hát, hay một học giả viết một cuốn giáo trình, hoặc một nhà văn hoàn thành một cuốn tiểu thuyết hay bất cứ một công việc nào khác trực tiếp gắn với nhân thân của người có nghĩa vụ, thì điều đó có đem lại kết quả tích cực? Đấy là chưa kể đến việc cho phép cưỡng chế thi hành những nghĩa vụ trực tiếp gắn với nhân thân của người mắc nợ là mâu thuẫn với quyền tự do và các giá trị nhân thân khác của con người. Hơn nữa, tại sao trong khi quy định tại Điều 303 BLDS 2005 không chấp nhận việc chủ nợ có quyền yêu cầu Tòa án cưỡng chế người mắc nợ thực hiện nghĩa vụ giao vật đặc định (dù bị hư hỏng) và bồi thường thiệt hại, mà quy định tại khoản 1 Điều 304 BLDS 2005 lại cho phép chủ nợ có quyền yêu cầu Tòa án cưỡng chế người mắc nợ tiếp tục thực hiện một công việc nhất định, cho dù công việc đó trực tiếp gắn với nhân thân của người mắc nợ?

Tham khảo tiếp nội dung của khoản 1 Điều 305 BLDS 2005, khi nghĩa vụ dân sự chậm được thực hiện thì bên có quyền có thể gia hạn để bên có nghĩa vụ hoàn thành nghĩa vụ; nếu quá thời hạn này mà nghĩa vụ vẫn chưa được hoàn thành thì theo yêu cầu của bên có quyền, bên có nghĩa vụ vẫn phải thực hiện nghĩa vụ và bồi thường thiệt hại. Từ quy định này có thể hiểu, theo yêu cầu của chủ nợ, Tòa án có thể cưỡng chế thi hành tất cả những nghĩa vụ hợp đồng bị quá hạn, bao gồm cả những nghĩa vụ hợp đồng mà việc thực hiện nghĩa vụ này chỉ có ý nghĩa khi nó được thực hiện đúng (hoặc trong) thời hạn đã định. Tuy nhiên, như đã phân tích kinh nghiệm các nước ở trên, việc cưỡng chế thi hành những loại nghĩa vụ này không chỉ thiếu căn cứ thực tiễn mà còn là “việc rất không khoa học”. Những ví dụ nêu trên về ba trường hợp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ quá hạn (trường hợp khi bánh ga -to phải hoàn thành trước lễ cưới, khi người ca sĩ phải biểu diễn vào đúng đêm giao thừa, hoặc khi chiếc váy phải được may trước cuộc thi hoa hậu) minh họa cho nhận định này.

Những phân tích nêu trên cho thấy, các quy tắc về thi hành NVHĐTT trong BLDS 2005 còn chưa được phát triển bởi một định hướng rõ ràng. Và một khi chưa có định hướng rõ ràng, thì việc Tòa án ra phán quyết cưỡng chế thi hành nghĩa vụ không mang tính khả thi và không được dư luận đồng tình cũng là điều dễ hiểu. Vì lẽ đó, chúng tôi cho rằng, việc làm sáng tỏ các tiêu chí (các điều kiện) để phân biệt rõ những trường hợp nào thì yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trên thực tế có thể được chấp nhận (như nghĩa vụ chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả một khoản tiền …), những trường hợp nào bên có quyền chỉ có thể tự mình thực hiện thay hoặc giao cho người khác thực hiện thay nghĩa vụ, hoặc đòi trả tiền phạt vi phạm và (hoặc) bồi thường thiệt hại do không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, là một việc làm cần thiết hiện nay. Việc đưa ra các tiêu chí (hay các điều kiện) để phân biệt cần phải quán triệt nguyên tắc: chúng ta không thể không chấp nhận một quy tắc cơ bản đã được hầu hết các nước trên thế giới thừa nhận, đó là, yêu cầu cưỡng chế thi hành NVHĐTT sẽ không được chấp nhận nếu nghĩa vụ đó trực tiếp gắn với nhân thân của người mắc nợ, hoặc nếu nghĩa vụ đó trở nên không thể thực hiện được sau khi các bên đã ký kết hợp đồng.

---------------

[1] Xem TS. Nguyễn Ngọc Đào - Luật La mã, Nxb…Hà Nội, 1994, tr.105.

[2] Xem M. I. Braginskiji, V. V. Vitrijanskiji Luật hợp đồng, Nxb. Statut, Mátxcơva, 1998 tr. 335.

[3] Xem K. Zweigert, H. Kotz Nhập môn so sánh trong lĩnh vực luật tư, Nxb. Quan hệ quốc tế, Mátxcơva, 1998, tr. 201.

[4] Xem K. Zweigert, H. Kotz Sđd, tr. 213, 214.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 91 THÁNG 2 NĂM 2007

Trích dẫn từ: http://www.nclp.org.vn/thuc_tien_phap_luat/thuc-hien-nghia-vu-hop-111ong-tren-thuc-te-1/?searchterm="SỞ%20HỮU"

Thứ Bảy, 27 tháng 6, 2009

ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG: NHIỀU ĐIỀU CHƯA RÕ

LS. NGUYỄN HỮU PHƯỚC - Công ty Luật Phước & Partners

Trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế toàn cầu như hiện nay, việc cắt giảm chi phí hoạt động nói chung và chi phí lao động nói riêng là một trong những việc cấp thiết phải làm của các doanh nghiệp để có thể tồn tại.

Việc cắt giảm chi phí lao động nói chung có nhiều cách, ví dụ như không ký lại hợp đồng lao động (HĐLĐ) sắp hết hạn, không tăng lương và trợ cấp, không thưởng thành tích, cắt giảm các khoản vui chơi, giải trí của người lao động (NLĐ), cắt giảm các khoản phúc lợi không cam kết trong HĐLĐ hoặc thỏa ước lao động tập thể. Tuy nhiên, những cắt giảm này thường không thể triển khai nhanh và nhiều được. Cái có thể đạt mục đích nhanh nhất vẫn là việc người sử dụng lao động (NSDLĐ) đơn phương chấm dứt HĐLĐ với NLĐ.

Các quy định của luật

Bộ luật Lao động hiện hành cũng đã có dự liệu về trường hợp này. Cụ thể, điều 17 của bộ luật quy định NSDLĐ được quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ với NLĐ trong trường hợp “do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ” và NLĐ đã được đào tạo lại nghề để sử dụng cho công việc mới nhưng NSDLĐ không thể giải quyết được việc làm mới.

Cụm từ “do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ” được Chính phủ giải thích thêm tại điều 11 của Nghị định 39/2003 ngày 18-4-2003 là bao gồm một trong các trường hợp sau: (i) việc thay đổi một phần hoặc toàn bộ máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ tiên tiến có năng suất lao động cao hơn; (ii) thay đổi sản phẩm hoặc cơ cấu sản phẩm dẫn đến việc sử dụng lao động ít hơn; hoặc (iii) thay đổi cơ cấu tổ chức, sáp nhập, giải thể “một số bộ phận” của đơn vị.

Khoản 2, điều 17 của Bộ luật Lao động cũng quy định là khi có nhiều NLĐ thôi việc do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ, doanh nghiệp phải công bố danh sách, trao đổi nhất trí với ban chấp hành công đoàn cơ sở và phải báo cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động địa phương biết. Chỉ sau 30 ngày kể từ ngày báo cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động địa phương biết, thì NSDLĐ mới quyết định cho NLĐ thôi việc.

Phần II, khoản 4 của Thông tư số 19 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ngày 12-9-1996 cũng quy định là chi phí phục vụ cho việc đào tạo được lấy từ quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm của doanh nghiệp.

Vướng mắc phát sinh trong thực tế

Tuy nhiên, khi áp dụng các điều khoản trên đây, thường có xảy ra một số vướng mắc gây khó khăn cho doanh nghiệp. Cụ thể như sau:

(i) Đào tạo lại: Bộ luật Lao động và các văn bản pháp quy của Chính phủ không quy định rõ là thời gian đào tạo lại, do doanh nghiệp tự làm hay phải nhờ một đơn vị dịch vụ huấn luyện chuyên nghiệp thực hiện? Nếu không có công việc phù hợp khác trong doanh nghiệp có cần phải qua thủ tục đào tạo lại không? Nếu không có những hướng dẫn rõ về những vấn đề này thì sẽ phát sinh nhiều vấn đề.

Nên chăng Nghị định 39/2003 phải được sửa đổi, bổ sung theo hướng giải thích cụ thể cụm từ “đào tạo lại” về các khía cạnh như thời gian đào tạo, nội dung đào tạo, công việc đào tạo, trình độ người đào tạo, tiêu chí xác định việc đào tạo hoàn tất để làm cơ sở cho việc xác định xem việc đào tạo lại có đạt được mục đích như nhà làm luật mong muốn không để tránh việc tranh chấp giữa NSDLĐ và NLĐ.

Chẳng hạn, NSDLĐ có thể lợi dụng bằng cách chỉ đào tạo lại cho NLĐ trong thời gian rất ngắn, chỉ 1-2 ngày cho có lệ, rồi quyết định là NLĐ không phù hợp cho công việc mới; hoặc đào tạo lại những công việc mới không phù hợp với khả năng của họ (ví dụ như nhân viên bảo vệ lại được cho đào tạo lại thành kế toán quản trị hay nhân viên hành chính được đào tạo lại thành chuyên viên đồ họa hay vi tính); hoặc không có tiêu chí để xác định là việc đào tạo lại có thành công hay không...

Về phía NLĐ, họ cũng có thể làm khó NSDLĐ qua việc luôn than phiền, kêu ca là không có đủ thời gian để tham gia các khóa đào tạo lại do doanh nghiệp tổ chức; hoặc không được các giảng viên chuyên nghiệp hướng dẫn bài vở một cách đầy đủ, chuyên nghiệp và tận tình cũng như không có được cơ hội tiếp cận các tài liệu, giáo trình chuyên nghiệp.

Về vấn đề này, nên chăng Nghị định 39/2003 phải được sửa đổi, bổ sung theo hướng giải thích cụ thể cụm từ “đào tạo lại” về các khía cạnh như thời gian đào tạo, nội dung đào tạo, công việc đào tạo, trình độ người đào tạo, tiêu chí xác định việc đào tạo hoàn tất để làm cơ sở cho việc xác định xem việc đào tạo lại có đạt được mục đích như nhà làm luật mong muốn không để tránh việc tranh chấp giữa NSDLĐ và NLĐ.

(ii) Thời gian báo trước: Khi NSDLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ theo điều 17 của Bộ luật Lao động, thì không thấy luật đề cập là có cần phải có thời gian báo trước hay không.

Trong một vài văn bản của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trả lời thắc mắc của một số doanh nghiệp thì trong trường hợp này doanh nghiệp không phải báo trước cho NLĐ. Việc thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ là việc NSDLĐ thường có dự liệu trước dù trong thực tế có thể thời gian dự liệu không dài.

Thêm vào đó, đây là công việc phục vụ cho quyền lợi và lợi ích của NSDLĐ chứ không phải của NLĐ. Do đó, việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ nên có thời gian báo trước tương tự như các trường hợp được nêu ở khoản 2 và 3, điều 38 của Bộ luật Lao động để tạo điều kiện cho NLĐ có đủ thời gian tìm công việc mới, để ổn định cuộc sống, đặt biệt là khi mà trợ cấp mất việc làm không còn được áp dụng kể từ ngày 1-1-2009 cho đa số các trường hợp.

(iii) Yêu cầu về việc trao đổi nhất trí với ban chấp hành công đoàn cơ sở: Trong một số doanh nghiệp đã có thành lập công đoàn lâm thời hoặc công đoàn cơ sở thì việc trao đổi nhất trí với ban chấp hành công đoàn lâm thời hoặc công đoàn cơ sở là chuyện khá dễ dàng. Tuy nhiên, trong một số doanh nghiệp mà công đoàn chưa được thành lập thì sẽ phải giải quyết như thế nào?

Theo công văn hướng dẫn của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho một doanh nghiệp thì trong trường hợp doanh nghiệp chưa có tổ chức công đoàn cơ sở thì nếu muốn chấm dứt HĐLĐ với NLĐ theo điều 17 của Bộ luật Lao động, NSDLĐ vẫn phải thực hiện theo trình tự và thủ tục nêu trên, nhưng được miễn trừ việc trao đổi nhất trí với tổ chức công đoàn cơ sở .

Thiết nghĩ việc có sự tham gia của ban chấp hành công đoàn cơ sở nhằm mục đích chính là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho NLĐ trong trường hợp NSDLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ.

Nếu theo hướng dẫn trên của bộ, thì các quyền, lợi ích hợp pháp của NLĐ không được bảo vệ và không khuyến khích các doanh nghiệp tích cực trong việc kêu gọi, khuyến khích NLĐ tham gia công đoàn. Vì thế, nên điều chỉnh khoản 2, điều 17 của Bộ luật Lao động theo hướng là trong trường hợp doanh nghiệp không có công đoàn thì NSDLĐ cần phải xin ý kiến nhất trí của công đoàn cấp trên tại địa phương nơi trụ sở của doanh nghiệp tọa lạc.

(iv) Cần làm rõ khái niệm về việc thay đổi cơ cấu tổ chức, sáp nhập, giải thể “một số bộ phận”. Điều 11 của Nghị định 39/2003 có quy định trong trường hợp thay đổi cơ cấu tổ chức, sáp nhập, giải thể “một số bộ phận” của đơn vị cũng được coi là một trong những trường hợp do thay đổi cơ cấu trong doanh nghiệp theo điều 17 của Bộ luật Lao động và NSDLĐ có thể áp dụng cho việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ với NLĐ.

Tuy nhiên, khái niệm “một số bộ phận” lại không được làm rõ ở Nghị định 39/2003 và các văn bản pháp quy về lao động khác và vì thế sẽ không có cơ sở pháp lý vững chắc để xác định là có một hay một số bộ phận nào đó trong sơ đồ tổ chức doanh nghiệp bị giải thể là do kết quả của việc áp dụng một cấu trúc tổ chức mới của doanh nghiệp hay không.

Như chúng ta đã biết, trong một số doanh nghiệp nhỏ có khoảng 10 nhân viên thôi thì một bộ phận có thể chỉ do một người duy nhất phụ trách mà thôi (ví dụ bộ phận kế toán, bộ phận pháp chế, hay bộ phận công nghệ thông tin). Trong khi đó, chúng ta có xu hướng cho rằng đã gọi là “bộ phận” thì thường phải có nhiều hơn một người, tối thiểu là hai người. Câu hỏi là có thể coi một người nhân viên trong các ví dụ nêu trên là một bộ phận của doanh nghiệp để áp dụng điều 11 của Nghị định 39/2003 hay không.

Các luật sư và luật gia nói chung có lý luận cho rằng cụm từ “bộ phận” nên được hiểu có thể là một người hoặc một nhóm người được giao một công việc chuyên môn đặc thù nào đó độc lập với các công việc chuyên môn của các nhân viên khác trong doanh nghiệp. Giải thể một số bộ phận là kết quả của việc doanh nghiệp không còn cần (các) công việc chuyên môn đó nữa.

Thiết nghĩ, điều 11 của Nghị định 39/2003 cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng này để giải thích rõ cụm từ “bộ phận” nhằm tránh các tranh chấp không đáng có.

SOURCE: THỜI BÁO KINH TẾ SÀI GÒN

Trích dẫn từ: http://www.thesaigontimes.vn/Home/doanhnghiep/phapluat/20486/

Bài đăng phổ biến