Hiển thị các bài đăng có nhãn PHÁP LUẬT VỀ TT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn PHÁP LUẬT VỀ TT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 17 tháng 9, 2009

CẦN CÓ ĐỊNH CHẾ CHO PHÉP XÂY DỰNG VÀ ÁP DỤNG ÁN LỆ NHƯ LÀ NGUỒN BỔ SUNG LUẬT PHÁP TRONG XÉT XỬ

LS. NGUYỄN ĐĂNG NGHIÊM

Án lệ (tiếng pháp là Jurisprudence) được định nghĩa là: “Đường lối giải thích và áp dụng luật pháp của các tòa án về một điểm pháp lý, đường lối này đã được coi như một tiền lệ, khiến các thẩm phán sau đó có thể noi theo trong các trường hợp tương tự”.

Theo luật gia Trần Thúc Linh, cũng là cựu thẩm phán Tòa Thượng thẩm Sài Gòn cũ trước ngày giải phóng, trong hệ thống tòa xét xử ở các nước tư bản cũng như của chế độ Sài Gòn trước đây thì: “Sở dĩ có được án lệ là nhờ ở Tòa Thượng thẩm (Cour d’appel) và Tòa Phá án (Cour de cassation) là những cơ quan kiểm soát lại các bản án tòa dưới, tòa phá án bảo đảm một sự thống nhất trong việc giải thích luật pháp vì lâu dần các tòa án sẽ hướng theo các án lệ của Tòa Phá án.”

Trong thế kỷ 20 và hiện nay, trong công tác xét xử và kiểm soát xét xử, các tòa án thuộc hệ thống tư pháp các nước châu Âu đã vận dụng xây dựng án lệ để phục vụ cho việc xét xử được linh hoạt, vừa đảm bảo việc áp dụng luật pháp gắn với thực tiễn cuộc sống mà chỉ có đội ngũ thẩm phán xét xử mới nắm bắt kịp thời các sơ hở, thiếu sót của các văn bản luật pháp, trong khi các nhà lập pháp không có điều kiện để xâm  nhập tìm hiểu thực tiễn, hoặc muốn sửa đổi bổ sung những khiếm khuyết của các văn bản luật cũng đòi hỏi một quá trình tu chỉnh, sửa đổi khá lâu lắc, trong khi thân phận những đối tượng bị điều chỉnh bởi luật pháp lại mang tính tức thời trong các vụ án đang đăng đàn xét xử.

Việc xây dựng án lệ theo quan điểm xét xử của các tòa án có thẩm quyền xem xét bản án của tòa dưới đã góp phần bổ sung tốt sự thiếu sót của các qui định luật pháp trong thực tiễn. Ở Anh Quốc, việc vận dụng án lệ kể cả tục lệ pháp được thực hiện khá phổ biến. Chính vì vậy, mà các nhà luật học thường cho rằng hệ thống luật pháp ở Anh Quốc là theo luật mềm, không chỉ căn cứ cứng nhắc vào các văn bản pháp luật do Quốc hội ban hành, mà có sự vận dụng linh hoạt đúng luật vừa phù hợp với thực tiễn, bằng cả nguồn tập quán, tục lệ phù hợp lẽ phải và công bằng xã hội. Hệ thống luật pháp của chế độ Sài Gòn cũ trước năm 1975 vốn chịu ảnh hưởng của luật pháp châu Âu, nhất là luật pháp của Pháp quốc, đặc biệt là về dân luật, cũng rất quan tâm việc xây dựng án lệ.

Ngay bộ Dân luật do chế độ Sài Gòn ban hành ngày 20/12/1972, đã có  qui định liên quan đến yêu cầu áp dụng án lệ trong xét xử, từ Điều 8 và Điều 9 của bộ luật này. Điều 8 ghi: “Thẩm phán nào không chịu xét xử vì lẽ luật không định hay luật tối nghĩa, thiếu sót, sẽ có thể bị truy tố về tội bất khẳng thụ lý”. Điều 9 còn bổ sung thêm: “Gặp trường hợp không có điều luật nào có thể dẫn dụng, thẩm phán sẽ quyết định theo tục lệ; nếu không có tục lệ, sẽ theo công bằng và lẽ phải mà xét xử và phải chú trọng đến ý định của các đương sự”.

Trong thực tế xét xử hiện nay ở nước ta, đã có một số tòa án đã từ chối xét xử một số vụ kiện, đặc biệt đối với các vụ kiện dân sự, hành chính, với lý do viện dẫn là thiếu qui định luật pháp điều chỉnh vụ việc liên quan. Việc từ chối thụ lý vụ việc này có thể dẫn đến hậu quả thiệt hại cho một bên tranh chấp, lại làm lợi cho một bên khác trong vụ kiện. Nên chăng vì thiếu quy định luật, mà từ chối thụ lý vụ việc khiếu kiện do người dân đưa đến tòa, làm người dân lúng túng không tìm được chỗ dựa pháp luật để giải quyết các vấn đề bức xúc của mình, mặc dù về mặt tín lực nội tâm của đương sự xác tín là quyền lợi của mình bị xâm phạm (có thể là quyền lợi vật chất hay quyền lợi tinh thần), tòa án cứ mạnh dạn vận dụng sáng tạo luật pháp để thụ lý, xét xử, miễn là không trái với lẽ phải, sự khách quan công bằng với tâm nghiêm chính của thẩm phán.

Chính vì vậy, tại các nước, đều có qui định mở rộng vận dụng sáng tạo của các tòa án, của các thẩm phán (nhất là các thẩm phán lão làng) trong việc áp dụng luật pháp, để đưa ra quan điểm xét xử theo luật kết hợp với thực tiễn cuộc sống, để đưa ra các bản án mẫu, trở thành án lệ có thể theo đó áp dụng cho các vụ án tương tự về sau. Đây cũng là cách thích hợp tạo điều kiện cho thẩm phán, những người có kinh nghiệm thực tiễn xét xử, tham gia làm luật, góp phần bổ sung luật pháp ngày một hoàn chỉnh hơn.

Hiện nay, hầu hết các nước có nền luật pháp tiên tiến, đều có vận dụng án lệ trong xét xử ở hệ thống tòa án, cũng xuất phát từ yêu cầu thực tiễn xét xử, với nguyên tắc “Tòa án không được quyền từ chối thụ lý bất cứ yêu cầu khởi kiện nào của công dân” và đồng thời cũng có nguyên nhân sâu xa từ sự hội nhập của hai hệ thống luật pháp Anglo Saxon và Continental, kể cả hệ thống pháp luật XHCN về sau.

Chẳng hạn như ở CHLB Đức, phương pháp xây dựng án lệ đã tạo điều kiện cho Tòa án Đức vai trò sáng tạo khá lớn, được giải thích luật “căn cứ vào câu chữ của qui phạm, ngữ cảnh của qui phạm, mục đích của qui phạm, kể cả căn cứ vào quá trình soạn thảo qui phạm đó”. Tòa án ở Đức còn có quyền lựa chọn cách giải thích phù hợp nhất với hiến pháp. Cách làm của Tòa án Đức có ảnh hưởng áp dụng đến cả các qui phạm pháp luật của Liên minh châu Âu. Và ở Đức, hiệu lực án lệ được hình thành từ việc giải thích một qui phạm pháp luật cũng có giá trị, hiệu lực gần như chính qui phạm pháp luật. Rõ ràng án lệ có giá trị không những về thực tiễn, mà còn có giá trị không thua gì một qui phạm pháp luật. Thẩm quyền xây dựng án lệ ở Đức được giao cho các tòa án bảo hiến liên bang và các Tòa án cấp liên bang khác, có giá trị bắt buộc các tòa án cấp dưới có nghĩa vụ phải thực hiện các án lệ này, nếu không các bản án của các tòa cấp dưới có thể bị giám đốc thẩm.

Ở Ý, thẩm quyền xây dựng án lệ được giao cho tòa án bảo hiến để đảm bảo cơ chế tập trung quyền lực ở Trung ương. Ở Tây Ban Nha, chịu ảnh hưởng của luật La Mã, vẫn coi án lệ như một nguồn luật, có giá trị bổ sung trật tự pháp lý thông qua luận thuyết được tòa án tối cao áp dụng trong quá trình giải thích và áp dụng luật, tập quán, kể cả các nguyên tắc chung của luật pháp. Ở Anh Quốc, vai trò sáng tạo của án lệ rất quan trọng, được thể hiện theo quy tắc của tiền lệ pháp đã xuất hiện từ đầu thế kỷ  thứ XIX được khái niệm là “Qui tắc đã được lập ra trong một phán quyết ban hành trước đó chỉ có hiệu lực ràng buộc đối với các thẩm phán khi xét xử các vụ kiện tương tự” v.v...

Riêng ở Việt Nam, thông qua thực tiễn hoạt động xét xử của hệ thống tòa án, có thể nói các văn bản phát biểu quan điểm xét xử của tòa án nhân dân tối cao khi trả lời các đề nghị của tòa án cấp dưới về việc hướng dẫn vận dụng qui phạm pháp luật trong xét xử ở một số vụ án cụ thể có thể coi như là án lệ, để các tòa án cấp dưới rút kinh nghiệm trong xét xử, nhưng chưa có một quy định bắt buộc rõ ràng để các tòa án cấp dưới phải tuân thủ trong việc xét xử các vụ án tương tự.

Ở Việt Nam, có ưu điểm là hàng năm Tòa án Nhân dân Tối cao đều có tổng kết rút kinh nghiệm thực tiễn, hướng dẫn công tác xét xử cho các cấp Tòa án trong việc vận dụng các qui phạm pháp luật trong việc xét xử, nhưng việc chờ đợi các hướng dẫn chỉ đạo này không đảm bảo tính kịp thời và nhiều khi tính ràng buộc việc tuân thủ cũng không được qui định chặt chẽ. Có lẽ chính vì nguyên nhân về yếu tố thời gian chậm trễ và tính bắt buộc tuân thủ không được thể hiện chặt chẽ, cụ thể mà nhiều vụ án ở VN bị giám đốc thẩm, thậm chí giám đốc thẩm hơi tràn lan.

Thỉnh thoảng ở nước ta, cũng đã có ban hành những thông tư liên tịch giữa các ngành tòa án tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ công an, Bộ Tư pháp (như một văn bản lập quy dưới luật) để giải thích, hướng dẫn, chỉ đạo cho các cơ quan tố tụng của ngành tư pháp (trong đó có tòa án) trong việc giải quyết vụ án có liên quan việc vận dụng cụ thể các qui phạm pháp luật, các văn bản pháp luật. Việc làm đó của các cơ quan ngành tư pháp cũng có mặt tích cực nhất định, nhưng rõ ràng chưa thể hiện được tính thực tiễn, sinh động, cụ thể, kịp thời so với việc xây dựng và áp dụng án lệ theo kinh nghiệm của các nước.

Nên chăng, đã đến lúc trên tiến trình cải cách và đổi mới hệ thống pháp luật và hệ thống tư pháp, xét xử của VN hiện nay, trong khi chờ đợi sự chuyển đổi cụ thể hệ thống tòa án của nước ta, cần sớm đưa vào thí điểm việc xây dựng và áp dụng án lệ, để tạo điều kiện cho tòa án và các thẩm phán tích cực tham gia sáng tạo, bổ sung luật pháp trong quá trình kinh qua thực tiễn xét xử của họ, vốn là một yêu cầu thực tiễn của tình trạng thiếu luật hoặc có nhiều khe hở, sơ sót của các văn bản pháp luật, hoặc tính lạc hậu nhanh của một số văn bản luật pháp không theo kịp thực tiễn phát triển quá nhanh, có tính bùng nổ của nền kinh tế xã hội của đất nước. Ngoài vai trò của TANDTC nên chọn những tòa án nhân dân cấp tỉnh vốn có đội ngũ thẩm phán tài giỏi, lão làng được giao thẩm quyền thí điểm đưa ra các bản án điển hình (trong quá trình xét xử thực tiễn các vụ án) được coi như án lệ, mẫu mực bắt buộc các tòa án cấp dưới phải tuân thủ vận dụng trong các vụ án tương tự mà các tòa này thụ lý.

Và cũng nên cho in ấn, xuất bản một loại “tập san pháp lý” để tập hợp những bản án điển hình vận dụng sáng tạo luật pháp, những án lệ này để làm tài liệu pháp lý thực tiễn để các tòa án, các thẩm phán nghiên cứu vận dụng, kể cả đội ngũ luật sư cũng cần qua đó học tập, nâng cao kiến thức luật pháp của mình trong dịch vụ bào chữa cho bị can, bị cáo hoặc bảo vệ thân chủ của mình trước tòa vậy. Yêu cầu xây dựng án lệ cũng đi đôi với việc đổi mới việc xây dựng, đào tạo đội ngũ thẩm phán chuyên nghiệp, lâu năm, thâm niên yêu nghề và được sống với “nghề thẩm phán” suốt đời (chỉ ngoại trừ khi sức khỏe, cả về thể chất hay tinh thần không cho phép đảm nhiệm), chứ không về hưu theo tuổi giống qui định công chức như hiện nay. Đó cũng là một đòi hỏi rất cần thiết về yêu cầu vận dụng sáng tạo, thực tiễn trong công tác xét xử của thẩm phán và đảm bảo các án lệ được chất lượng. Tất cả đòi hỏi phải tiến tới một định chế cụ thể, có giá trị pháp luật, mới thực hiện được, dù ở giai đoạn thí điểm cũng vậy.
Tài tham khảo:
1. Các hệ thống Pháp luật cơ bản trên thế giới (của tác giả Michel Fromont, Giáo sư đại học Panthéon Sorbon – Paris I). Dịch giả: Trương Quang Dũng, hiệu đính: Nguyễn Văn Bình (do nhà Pháp luật Việt Pháp và NXB Tư pháp HN ấn hành 2006)
2. Danh từ pháp luật lược giải, tác giả: Trần Thúc Linh, thẩm phán Tòa Thượng thẩm Sài Gòn cũ, nhà sách Khai Trí ấn hành năm 1965.
3. Bộ Dân Luật (do tối cao pháp viện của chính quyền Sài Gòn xuất bản năm 1973)
4. Tự điển pháp luật Anh-Việt, tác giả: nhóm luật sư, Thẩm phán, chuyên gia kinh tế: Nguyễn Thế Kỳ, Phạm Quốc Toản, Lương Hữu Định, Quốc Minh Vương, Mary C.Downey, Cham W.Louie (NXB Khoa học xã hội – 1994).

SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ ĐOÀN LUẬT SƯ TPHCM

Trích dẫn từ:

‘http://www.hcmcbar.org/index.php?option=com_contentlist&task=detail&cat=4&type=2&id=224

Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2009

LUẬT SƯ – TỪ THỰC TẾ NHÌN LẠI

ÁI CHÂN – HOÀI NAM

1. Lượng: thiếu, chất: mỏng

Nghề luật sư (LS) là một hoạt động bổ trợ tư pháp, có vai trò đặc biệt quan trọng trong Nhà nước pháp quyền và trong xã hội nói chung. Giữ vị trí tối cần thiết như vậy, nhưng cả nước hiện chỉ có 5.334 LS và 2.000 người tập sự hành nghề LS trên tất cả các lĩnh vực có liên quan đến pháp luật từ dân sự, hình sự, kinh tế, hành chính, đến thương mại, đầu tư, kinh doanh. Tính ra, tỷ lệ LS trên số dân ở Việt Nam là 1/20.700. Tỷ lệ này quá thấp so với một số nước trong khu vực và trên thế giới, chẳng hạn ở Singapore là 1/1.000, ở Mỹ là 1/250… Bên cạnh đó, chất lượng của đội ngũ LS cũng còn không ít điểm hạn chế.

Thiếu hụt đầu vào lẫn đầu ra

Khá nhiều người trong xã hội hiện nay có quan niệm: muốn làm LS phải đi học luật, và đã học luật chắc chắn sẽ là LS. Vế đầu của quan niệm này đúng, bởi tất cả LS đều phải có bằng cử nhân luật, cũng như muốn là bác sĩ thì phải qua 6 năm đào tạo trong trường đại học y. Còn vế thứ hai thì sai. Theo PGS, TS Mai Hồng Quỳ, Hiệu trưởng Trường Đại học Luật TPHCM, một sinh viên vừa tốt nghiệp trường luật đòi hỏi trở thành LS ngay là điều không thể. Một thực tế là trong thời gian 4 năm học ở trường đại học luật, sinh viên không được học môn học nào về kỹ năng và đạo đức hành nghề của nghề LS. “LS là một nghề và được pháp luật điều chỉnh việc hành nghề của họ. Ở trường chúng tôi không đào tạo LS mà chỉ đào tạo cử nhân luật” – PGS, TS Mai Hồng Quỳ nhấn mạnh.

Qua tìm hiểu, mỗi năm Trường Đại học Luật TPHCM cho “ra lò” khoảng 2.000 cử nhân luật, trong đó phân nửa thuộc hệ tại chức. Ở phía Bắc, Trường Đại học Luật Hà Nội bằng nhiều hình thức đào tạo khác nhau cũng chỉ cho tốt nghiệp hơn 2.000 cử nhân luật/năm. Số lượng sinh viên khoa luật của gần chục trường đại học khác trong cả nước mỗi năm tốt nghiệp khoảng 6.000 người. Và chỉ 10% trong số này đi theo nghề LS. Nghĩa là mỗi năm, đầu vào để đào tạo nghề LS chỉ khoảng 1.000 người. Trong khi đó, theo Đề án phát triển đội ngũ LS phục vụ yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, đến năm 2015 cả nước cần đến 20.000 LS, và ít nhất 10% số LS này là LS chuyên sâu trong lĩnh vực thương mại quốc tế.

Sự bất cập trong đầu vào đã dẫn đến sự thiếu hụt đầu ra của đội ngũ LS. Bà Đỗ Hoàng Yến, Vụ trưởng Vụ Bổ trợ tư pháp (Bộ Tư pháp), nhìn nhận: “Sự thiếu hụt LS đang là vấn đề lớn và là nhu cầu đang cấp bách”.

Mặt khác, đội ngũ LS phát triển chủ yếu ở các thành phố lớn, đặc biệt là TPHCM và TP Hà Nội; vì thế ở các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, số lượng LS không đủ đáp ứng nhu cầu về dịch vụ pháp lý của nhân dân. Riêng tỉnh Lai Châu chưa có đủ số lượng LS cần thiết để thành lập Đoàn LS.

Đào tạo LS theo kiểu “mì ăn liền”

Song song với sự thiếu hụt đội ngũ LS, việc đào tạo kỹ năng và đạo đức nghề nghiệp cho LS cũng còn hạn chế. PGS, TS Mai Hồng Quỳ nhận xét: “Thông thường một khóa đào tạo LS do Học viện Tư pháp (Bộ Tư pháp) tổ chức chỉ khoảng 6 tháng. Nội dung đào tạo chủ yếu chú trọng đến yêu cầu LS phải làm gì, không được làm gì và những vấn đề cơ bản mà Luật LS quy định. Như vậy, thời gian để đào tạo một cử nhân luật thành LS chỉ mất chưa đầy 1 năm, trong khi ở nhiều nước trên thế giới, quá trình đào tạo này phải mất 6 đến 7 năm”.

LS Phan Thông Anh, Ủy viên Thường vụ Liên đoàn LS Việt Nam, Giám đốc Công ty Luật hợp danh Việt Nam, lý giải: “Do thiếu hụt LS, nên các khóa đào tạo được mở ra theo kiểu “mì ăn liền”, chủ yếu chạy theo số lượng. Đáng chú ý là hình thức đào tạo không đồng nhất, vừa có chính quy, tại chức, vừa có mở rộng, từ xa; độ tuổi của cử nhân luật khi ra trường để đào tạo LS cũng khác nhau. Điều này khiến cho việc chuẩn hóa chương trình, nội dung đào tạo nghề LS gặp khó khăn và làm giảm chất lượng đội ngũ LS”. Hậu quả là trong lúc hành nghề, không ít LS tỏ ra non kém về kỹ năng, vi phạm những quy tắc ứng xử thông thường nhất của nghề LS.

Từ kinh nghiệm bản thân, LS Nguyễn Thành Công (Công ty Luật TNHH Đông Phương Luật) cho rằng: Để xây dựng đội ngũ LS thật sự có chất lượng, chương trình học tại các trường đại học luật cần thiết phải được cơ cấu lại, gia tăng các môn học mang tính thực tiễn, hoạt động nghiệp vụ cụ thể. Bên cạnh đó, việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cho LS có thể thực hiện theo nguyên tắc “đứng trên vai người khổng lồ sẽ cao hơn người khổng lồ”. Nghĩa là các LS kỳ cựu sẽ truyền đạt một cách thật tâm huyết cho lớp LS đàn em về những kinh nghiệm, những “mảng”, “miếng”, những kỹ thuật trong nghề. Khi ấy, sự lĩnh hội của những LS mới vào nghề sẽ đỡ vất vả hơn, thời gian tinh thông nghề nghiệp rút ngắn hơn. Và như vậy, nước nhà sẽ sớm có một đội ngũ LS có trình độ cao.

Đội ngũ LS có chức năng cao cả là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, góp phần bảo vệ công lý và pháp chế XHCN. Hoạt động tham gia tố tụng của LS đã góp phần quan trọng thực hiện nguyên tắc tranh tụng tại tòa – một trong những yêu cầu trọng tâm của cải cách tư pháp, góp phần cải thiện một bước chất lượng hoạt động tố tụng, làm tăng thêm tính dân chủ, công bằng của phiên tòa.

Trong lĩnh vực tư vấn pháp luật, các LS đã và đang phát huy vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ các doanh nghiệp đàm phán, ký kết hợp đồng, giải quyết tranh chấp phát sinh, đặc biệt là trong các lĩnh vực mới mẻ như đầu tư nước ngoài, sở hữu trí tuệ, quan hệ thương mại hàng hóa có yếu tố nước ngoài…

2. Hành nghề – vẫn còn trở ngại

Cùng với sự phát triển của đất nước trong những năm qua, đội ngũ luật sư (LS) Việt Nam từng bước trưởng thành, trở thành bộ phận không thể tách rời trong thể chế Nhà nước pháp quyền XHCN. Đặc biệt là sau khi Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 2-1-2002 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp thời gian tới”, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2-6-2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” ra đời, hoạt động của LS chuyển biến rõ nét hơn, vai trò của LS được nâng lên tầm cao mới. Luật LS và các bộ luật khác đã có nhiều quy định mở rộng, trao thêm nhiều quyền nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của LS. Dẫu vậy, khi hành nghề, LS cũng đối mặt không ít khó khăn.

Luật: có quyền, thực tế: hạn chế

Theo Điều 58 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003, LS được tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can. Trong trường hợp cần phải giữ bí mật điều tra đối với tội đặc biệt nguy hiểm, xâm phạm an ninh quốc gia thì LS được tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra. Đặc biệt trong các trường hợp bắt người khẩn cấp và bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã thì LS được tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ.

Ngoài ra, LS còn được quyền có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và có thể được hỏi người tạm giữ, bị can nếu điều tra viên đồng ý. Quy định này nhằm tạo điều kiện cho LS thực hiện đúng chức năng của mình là làm sáng tỏ những tình tiết gỡ tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị can, bị cáo; góp phần đảm bảo việc điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội.

Luật quy định là thế, nhưng trên thực tế không phải lúc nào LS cũng được tạo điều kiện tham gia vào vụ án từ giai đoạn điều tra. LS kêu ca nhiều, thậm chí tại một cuộc họp, Đại tá Phan Anh Minh, Phó Giám đốc, Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an TPHCM, còn tuyên bố sẽ xử lý nghiêm những điều tra viên bị “tố” có hành vi cản trở LS hoạt động, tuy nhiên tình trạng này vẫn chưa thể chấm dứt. Theo quan điểm của một số điều tra viên, khi vụ án đang trong giai đoạn điều tra, LS bào chữa theo yêu cầu của bị can tham gia chỉ thêm… rối.

Bởi lẽ không ít trường hợp bị can đang thành khẩn thừa nhận hành vi sai phạm phù hợp với chứng cứ cơ quan điều tra thu thập được, vậy mà sau khi gặp LS thì lập tức phản cung, thay đổi lời khai. Vậy nên cứ trì hoãn sự tham gia của LS càng lâu càng tốt! Về phần mình, khi bị cản trở, không LS nào dám “tố” vì sợ sau này bị tẩy chay, ảnh hưởng đến hoạt động lâu dài.

LS Trần Ngọc Quý (Đoàn LS TPHCM) nêu một khó khăn khác. Khoản 2 Điều 64 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004 quy định rõ: người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được quyền nghiên cứu hồ sơ vụ án, được ghi chép, sao chụp tài liệu có trong hồ sơ vụ án để thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Quy định như vậy, nhưng thực hiện được hay không là do… hên xui. Có tòa án cho phép LS được dùng máy chụp ảnh kỹ thuật số sao chụp trực tiếp hồ sơ vụ án ngay tại chỗ để về nghiên cứu; nhưng cũng có tòa án yêu cầu LS phải đăng ký để tòa photocopy hồ sơ, hẹn LS vài ngày sau đến lấy. Gặp những trường hợp như vậy, LS phải mất nhiều thời gian đi lại mới có thể có được hồ sơ đầy đủ phục vụ cho việc nghiên cứu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ.

Giữ quy tắc đạo đức hay đối mặt với pháp luật?

Theo quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp, LS không được tiết lộ bí mật thân chủ. Đây là quy định đúng đắn, thể hiện trách nhiệm của LS đối với thân chủ của mình. Tuy nhiên, quy định này không “gặp” quan điểm của cơ quan điều tra.

Một số LS kể rằng đã bị điều tra viên mời lên yêu cầu hợp tác, cung cấp những gì đã biết qua những lần tiếp xúc với thân chủ (lúc này thân chủ của LS đã là bị can hoặc đang là nghi can trong một vụ án). Khi LS không đồng ý thì điều tra viên đe dọa rằng sẽ khởi tố LS về hành vi “Không tố giác tội phạm” theo quy định tại Điều 314 Bộ luật Hình sự.
Trước trường hợp này, hầu hết LS chọn cách không cung cấp thông tin và “đấu lý” với cơ quan điều tra rằng một khi thân chủ của họ chưa bị bản án có hiệu lực pháp luật tuyên là có tội thì chưa bị xem là tội phạm, do vậy không thể quy kết LS có hành vi “không tố giác tội phạm”. Dẫu “thoát hiểm” nhờ vận dụng “bảo bối” trên, nhưng các LS vẫn có cảm giác không được an toàn trong việc thực hiện trách nhiệm đối với thân chủ của mình.

Nhìn nhận theo hướng rộng hơn, LS Phan Thông Anh, Ủy viên Thường vụ Liên đoàn LS Việt Nam, Giám đốc Công ty Luật Hợp danh Việt Nam cho rằng: Pháp luật hiện nay còn có những quy định chồng chéo, thiếu thống nhất. Do vậy, mỗi LS phải phải có bản lĩnh, sự nhạy bén, xử lý tình huống hài hòa để vừa tuân theo quy tắc đạo đức nghề nghiệp vừa tuân thủ nghĩa vụ công dân của mình đối với đất nước.

Theo LS Phan Thông Anh, việc LS bị làm khó trong quá trình tham gia tố tụng là vấn đề “nóng” được đưa ra thảo luận tại Đại hội đại biểu LS lần thứ nhất. Đại hội đã tiếp thu ý kiến của các đại biểu kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sớm ban hành văn bản pháp luật liên quan đến quá trình tham gia tố tụng của LS. Cụ thể, cần có một thông tư liên tịch giữa TAND tối cao, VKSND tối cao, Bộ Công an và Bộ Tư pháp để quy định trách nhiệm cho các cơ quan tiến hành tố tụng phải tạo điều kiện tốt nhất cho LS trong việc cấp giấy chứng nhận bào chữa ngay từ giai đoạn điều tra, kể cả việc cấp giấy chứng nhận bào chữa một lần trong suốt quá trình tố tụng của vụ án, không phải kêu cấp đi cấp lại nhiều lần từ giai đoạn điều tra của cơ quan điều tra, đến giai đoạn truy tố của viện kiểm sát và đôi lúc kể cả giai đoạn xét xử của tòa án.

3. Những “con sâu” trong nghề luật

Đạo đức nghề nghiệp luật sư (LS) là tiêu chí quan trọng hàng đầu trong việc đánh giá chất lượng LS. Đa số LS đều có ý thức tôn trọng, tuân thủ các quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp; tuân thủ pháp luật, làm tròn trách nhiệm với thân chủ, với Nhà nước, với xã hội. Tuy nhiên, vẫn còn một số trường hợp LS lợi dụng sự hiểu biết luật pháp của mình để… vi phạm pháp luật, lợi dụng danh nghĩa LS để gây ảnh hưởng xấu đến an ninh quốc gia.

Từ hứa “chạy án” để lừa đảo...

Năm 2005, tại TPHCM, Cơ quan Điều tra Bộ Công an bắt quả tang LS Lê Bảo Quốc (thuộc Đoàn LS tỉnh Hà Tĩnh) đang nhận 2 tỷ đồng và 30.000 USD từ một đương sự với lời hứa sẽ “chạy” thi hành bản án dân sự phúc thẩm số 81/DSPT của Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TPHCM. Từ đây, cơ quan điều tra làm rõ hàng loạt hành vi vi phạm pháp luật của vị LS tham tiền, mất đạo đức này.

Lợi dụng những mối quan hệ trong công việc, Quốc lừa bịp, dùng những lời lẽ khoe khoang làm cho thân chủ của mình tưởng rằng Quốc có khả năng “chạy án”, “thay trắng đổi đen”, lật ngược tình thế có lợi cho họ. Thế nhưng, sau khi hợp đồng dịch vụ được ký kết, Quốc bỏ mặc thân chủ, không thèm ra tòa bảo vệ quyền lợi cho thân chủ và cũng không thực hiện lời hứa của mình.

Nghiêm trọng hơn, Quốc còn sử dụng thông tin của thân chủ mình để “làm tiền” phía đương sự đối ngược. Hành vi của Quốc đã làm hoen ố hình ảnh, uy tín giới LS chân chính. Đáng buồn thay, đây không phải là trường hợp duy nhất LS vi phạm pháp luật.

Tháng 10-2008 và tháng 5-2009 vừa qua, LS Lê Quốc Trung (Đoàn LS TP Hà Nội), LS Nguyễn Thị Quốc Khánh (Đoàn LS tỉnh Lâm Đồng) bị khởi tố, bắt tạm giam về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản; tháng 3-2009, LS Lê Trần Luật (Đoàn LS tỉnh Ninh Thuận) bị xử phạt 4 triệu đồng và bị tước quyền sử dụng không thời hạn giấy đăng ký hoạt động vì đã sử dụng giấy tờ giả, không báo cáo hoạt động theo luật định, trốn thuế, chiếm đoạt tiền của thân chủ.

Ngược với loại LS này là những LS lợi dụng kẽ hở pháp luật “tư vấn” cho thân chủ một cách trái pháp luật, không quan tâm đến lợi ích chung. Khi thân chủ bị bắt, họ xúi thân chủ không khai báo sự thật. Khi ra bào chữa trước tòa, họ đưa ra những lý lẽ không có căn cứ để yêu cầu hội đồng xét xử tuyên thân chủ họ vô tội; thậm chí không ngần ngại cho rằng thân chủ mình lẽ ra không bị xử lý hình sự nếu… không có sự can dự của báo chí.

Dường như họ đã cố tình quên rằng hoạt động nghề nghiệp của LS nhằm góp phần bảo vệ công lý, phát triển kinh tế và xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

... đến đòi thay đổi chế độ

Một điều cần phải thừa nhận rằng dù đã được chỉnh sửa, bổ sung nhiều lần nhưng đến nay hệ thống pháp luật Việt Nam vẫn chưa hoàn thiện. Là những người am hiểu pháp luật, các LS dễ dàng nhận biết điều này. Thế nhưng thay vì dùng kiến thức của mình góp ý để góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật thì một số người lại lợi dụng uy tín nghề nghiệp và tiếng nói của mình trên các diễn đàn hành nghề để chỉ trích Đảng, Nhà nước, lưu hành tài liệu có nội dung xuyên tạc nhằm đả kích chính quyền, mà điển hình là các LS Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân (Đoàn LS TP Hà Nội)…

Đặc biệt, trong vụ án Lê Công Định (LS của Đoàn LS TPHCM), dư luận và giới trí thức luật hết sức bất bình trước việc Lê Công Định lợi dụng việc tranh tụng tại tòa trong một số vụ án để công khai chống lại Nhà nước, phổ biến và tuyên truyền quan điểm của các thế lực thù địch đòi lật đổ chế độ và lập ra các đảng phái chính trị nhằm thu hút lực lượng, phô trương thanh thế.
Theo nguồn tin riêng của chúng tôi từ Tổng cục An ninh Bộ Công an, từ các vụ án liên quan đến một số LS chống đối Nhà nước ta vừa qua, Cơ quan An ninh điều tra đã tìm ra manh mối cho thấy các tổ chức phản động ở nước ngoài đang nhắm đến đối tượng trong giới trí thức luật để lôi kéo, kích động và thậm chí dùng đồng tiền mua chuộc LS, phục vụ cho lợi ích của chúng là chống phá Nhà nước ta.

Trong vụ án Lê Công Định còn cho thấy âm mưu của kẻ địch đã không từ một thủ đoạn nào, kể cả việc tìm mọi cách đưa Lê Công Định tham gia vào cơ cấu quyền lực tại các cơ quan dân cử, để từ đó dễ bề hoạt động và gây ảnh hưởng tư tưởng “tự do, dân chủ, nhân quyền” theo kiểu của chúng. Tất cả những âm mưu và thủ đoạn này của chúng đều được người dân âm thầm theo dõi, phát hiện và tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật đến cơ quan điều tra nhằm kịp thời đấu tranh, ngăn chặn.
Những “con sâu” này sẽ bị pháp luật nghiêm trị, nhưng đó chỉ là một số cá biệt, không phải là hình ảnh đại diện cho giới LS – những người đang ngày đêm đem kiến thức, nhiệt huyết của mình phục vụ cho người dân, cho nền pháp chế XHCN.

Tuy nhiên, để LS có thể thực hiện tốt nhất vai trò của mình, Bộ Giáo dục – Đào tạo và Bộ Tư pháp cần xây dựng chương trình đào tạo phù hợp cũng như có các biện pháp khuyến khích sinh viên luật, tập sự hành nghề LS tự đào sâu kiến thức, nâng cao trình độ ngoại ngữ. Đặc biệt, bồi dưỡng nâng cao trách nhiệm công dân, đạo đức nghề nghiệp đối với LS góp phần bảo vệ công lý và pháp chế XHCN; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ chức.

Đoàn LS TPHCM có số thành viên đông nhất nước, với 1.799 LS và 1.314 tập sự hành nghề LS. Hoạt động LS của đoàn phát triển mạnh trên cả 3 lĩnh vực: tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, dịch vụ pháp lý. Khoảng 15% số LS của đoàn nói tiếng Anh lưu loát, có thể tham gia bảo vệ quyền lợi cho thân chủ trong các tranh chấp thương mại quốc tế.

Trong năm 2008, các văn phòng LS, công ty luật của đoàn đã nhận bào chữa và bảo vệ quyền lợi cho đương sự trong 8.817 vụ án các loại, tư vấn pháp luật 9.037 vụ việc, thực hiện dịch vụ pháp lý 4.447 vụ việc.
LS Nguyễn Đăng Trừng, Chủ nhiệm Đoàn LS TPHCM, khẳng định: Đoàn LS TPHCM kiên quyết nói “không” với “chạy án”, những trường hợp LS vi phạm đều bị xử lý nghiêm minh, không bao che. Trong năm 2008, Đoàn LS TPHCM xử lý kỷ luật bằng các hình thức xóa tên, khiển trách, cảnh cáo đối với 4 LS. Ngày 22-6-2009, Ban Chủ nhiệm Đoàn LS TPHCM cũng đã quyết định thi hành kỷ luật với hình thức xóa tên Lê Công Định khỏi danh sách LS của đoàn.

SOURCE: BÁO SÀI GÒN GIẢI PHÓNG ĐIỆN TỬ

Trích dẫn từ: http://www.sggp.org.vn/phapluat/2009/7/196332/

Thứ Tư, 24 tháng 6, 2009

TÍNH CÔNG KHAI CỦA PHIÊN TÒA GIÁM ĐỐC THẨM DÂN SỰ

THS. MAI NGỌC DƯƠNG – Văn phòng Chính phủ

Nguyên tắc toà án xét xử công khai được quy định tại Điều 131 của Hiến pháp năm 1992 và được cụ thể hoá trong Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2002. Điều 7 của Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2002 quy định: “Toà án xét xử công khai, trừ trường hợp cần xét xử kín để giữ gìn bí mật Nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc để giữ bí mật của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ”.

Nguyên tắc này bảo đảm cho nhân dân giám sát được hoạt động xét xử của toà án, đồng thời tạo điều kiện cho toà án thực hiện việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử . Tuy nhiên hiện nay, trong phiên toà giám đốc thẩm dân sự, nguyên tắc xét xử công khai chưa hoàn toàn được áp dụng, sự tham gia của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người bào chữa còn hạn chế.

1. Thủ tục của phiên toà giám đốc thẩm không như một phiên toà

Phiên toà giám đốc thẩm dân sự là phiên toà do Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà dân sự (hoặc Toà kinh tế, Toà lao động) Toà án nhân dân tối cao và Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao tiến hành để xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án.

Theo quy định tại Điều 295 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (BLTTDS), thì phiên toà giám đốc thẩm diễn ra theo thủ tục sau:

- Sau khi chủ tọa khai mạc phiên toà, một thành viên của Hội đồng giám đốc thẩm trình bày tóm tắt nội dung vụ án, quá trình xét xử vụ án, quyết định của bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị và đề nghị của người kháng nghị.

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến của Viện về quyết định kháng nghị.

- Trong trường hợp có người tham gia tố tụng hoặc người khác được Toà án triệu tập tham gia phiên toà giám đốc thẩm thì họ được trình bày ý kiến của mình về quyết định kháng nghị.

- Các thành viên của Hội đồng giám đốc thẩm thảo luận và phát biểu ý kiến của mình về việc giải quyết vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.

- Hội đồng giám đốc thẩm biểu quyết về việc giải quyết vụ án.

Quyết định giám đốc thẩm của Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh hoặc Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao phải được quá nửa tổng số thành viên của Uỷ ban thẩm phán hoặc Hội đồng thẩm phán biểu quyết tán thành. Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh hoặc Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao biểu quyết theo trình tự tán thành, không tán thành với kháng nghị và các ý kiến khác; nếu không có trường hợp nào được quá nửa tổng số thành viên của Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh hoặc Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao biểu quyết tán thành thì phải hoãn phiên toà. Trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên toà, Uỷ ban thẩm phán, Hội đồng thẩm phán phải tiến hành xét xử lại với sự tham gia của toàn thể các thành viên.

Như vậy, phiên toà giám đốc thẩm được tiến hành với hình thức như một cuộc họp. Nhiều khi khó phân biệt phiên toà giám đốc thẩm với một cuộc họp bình thường. Nếu người tham gia tố tụng đã được Toà án triệu tập nhưng vắng mặt, phiên toà vẫn được tiến hành. Hầu hết các phiên toà giám đốc thẩm không có mặt những người tham gia tố tụng như: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người bào chữa, người làm chứng. Sắp xếp trong phòng xử án không theo quy định bắt buộc như phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm. Đại diện Viện kiểm sát và thư ký Toà án ngồi chung với Hội đồng xét xử. Điều này làm mất tính trang nghiêm của hoạt động xét xử nhân danh Nhà nước. Hơn nữa, với thủ tục một phiên toà như vậy, nguyên tắc xét xử công khai dường như chưa được bảo đảm bởi có quá ít người được biết phiên toà đã diễn ra như thế nào.

2. Sự tham gia của nguyên đơn, bị đơn dân sự trong giám đốc thẩm còn hạn chế

Trong thủ tục sơ thẩm, sự có mặt của nguyên đơn dân sự là bắt buộc. Điều 199 của BLTTDS quy định nguyên đơn phải có mặt tại phiên toà theo giấy triệu tập của Toà án, nếu vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng thì phải hoãn phiên toà. Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Toà án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án. Đối với bị đơn, việc có mặt của họ tại phiên toà cũng được coi trọng. Bị đơn phải có mặt tại phiên toà theo giấy triệu tập của Toà án; nếu vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng thì phải hoãn phiên toà. Bị đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ (Điều 200 của BLTTDS).

Trong thủ tục phúc thẩm, sự tham gia của nguyên đơn, bị đơn cũng là nguyên tắc được đề cao nhưng mức độ đã giảm so với thủ tục sơ thẩm. Theo quy định tại Điều 264 của BLTTDS, thì người kháng cáo, đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đến việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải được triệu tập tham gia phiên toà. Toà án có thể triệu tập những người tham gia tố tụng khác tham gia phiên toà nếu xét thấy cần thiết cho việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị.

Trong thủ tục giám đốc thẩm, sự tham gia của nguyên đơn, bị đơn dân sự rất hạn chế. Thông thường, họ chỉ gửi đơn khiếu nại, tài liệu bổ sung qua đường bưu điện cho Toà án. Trong trường hợp thật đặc biệt thì họ mới được đại diện Toà án, Viện kiểm sát gặp gỡ để trình bày trực tiếp. Tại phiên toà giám đốc thẩm, sự có mặt của nguyên đơn, bị đơn dân sự không mang tính bắt buộc. Tại Khoản 2, Điều 292 của BLTTDS có quy định: khi xét thấy cần thiết, Toà án triệu tập những người tham gia tố tụng và những người khác có liên quan đến việc kháng nghị tham gia phiên toà giám đốc thẩm. Nhưng trong thực tiễn xét xử giám đốc thẩm dân sự, sự có mặt của nguyên đơn, bị đơn dân sự tại phiên toà giám đốc thẩm là rất hãn hữu. Có ý kiến cho rằng, việc pháp luật tố tụng không đề cao vai trò của nguyên đơn, bị đơn dân sự do đặc thù của giám đốc thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật chứ không phải xét xử vụ án. Mặt khác, các bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật đã được xét xử qua ít nhất là một lần, nhiều là 2 - 3 lần, cho nên về mặt chứng cứ, tài liệu đã có điều kiện để tập hợp, phân tích đầy đủ. Tuy nhiên, theo chúng tôi, việc nguyên đơn, bị đơn dân sự không có mặt tại phiên toà giám đốc thẩm cũng có thể là một hạn chế của pháp luật tố tụng dân sự nước ta vì giám đốc thẩm xét lại bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án như: kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật, vì vậy, tuy các chứng cứ, tài liệu chứng minh về mặt nguyên tắc đã được tập hợp, phân tích đầy đủ, nhưng trong thực tế có nhiều vụ hồ sơ vụ án rất sơ sài, hoặc bị làm sai lệch, nếu các đương sự không được trình bày; Hội đồng giám đốc thẩm chỉ dựa vào hồ sơ vụ án để phán quyết thì vẫn có thể bị mắc sai lầm. Nếu đương sự vắng mặt thì tính trách nhiệm của thành viên Hội đồng giám đốc thẩm có thể không cao do “sức ép” của các bên không cao như khi họ có mặt, tính tranh luận của phiên toà cũng bị giảm đi. Hơn nữa, có lẽ là không hợp lý nếu đương sự không được tham gia vào quá trình Toà án xem xét lại bản án đối với vụ việc của chính mình - nghĩa là phiên toà giám đốc thẩm diễn ra không công khai đối với ngay cả đương sự - chứ chưa nói gì đến người dân nói chung.

3. Sự tham gia của người bào chữa trong giám đốc thẩm dân sự còn hạn chế

Trong thủ tục giám đốc thẩm dân sự, quyền và nghĩa vụ của người bào chữa nói chung không được xác lập, đề cao như ở giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm. Hoạt động của luật sư ở giai đoạn giám đốc thẩm không được coi trọng. Trong khi đó, nhiều trường hợp sau khi bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì đương sự mới mời luật sư bào chữa nên hồ sơ vụ án luật sư cũng không nắm chắc, việc tiếp cận hồ sơ vụ án trong giai đoạn giám đốc thẩm thường khá khó khăn và nhiều khi không thể thực hiện được. Việc tiếp xúc, đối thoại giữa luật sư với các bên đương sự đối lập, với người tiến hành tố tụng hầu như ít khi được thực hiện. BLTTDS không có điều khoản nào quy định trực tiếp quyền tham gia phiên toà giám đốc thẩm của luật sư. Vai trò của luật sư trong giám đốc thẩm còn mờ nhạt và mang tính gián tiếp. Luật sư thuộc nhóm “những người tham gia tố tụng” - nhóm những người mà khi xét thấy cần thiết thì toà án mới triệu tập - theo Khoản 2, Điều 292 của BLTTDS. Trong trường hợp có người tham gia tố tụng hoặc người khác được toà án triệu tập tham gia phiên toà giám đốc thẩm thì họ được trình bày ý kiến của mình về quyết định kháng nghị (Khoản 2, Điều 295). Việc hạn chế quyền tham gia phiên toà giám đốc thẩm dân sự của luật sư vô tình đã vi phạm nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự được quy định tại Điều 9 của BLTTDS. Khi luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự muốn tham gia phiên toà cũng không được, thì họ rất khó có thể bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trước các thẩm phán toà giám đốc thẩm.

4. Đề xuất cho hình thức phiên toà giám đốc thẩm

Như trên đã phân tích, việc phiên toà giám đốc thẩm mở không công khai có khả năng ảnh hưởng đến chất lượng của hoạt động xét xử giám đốc thẩm cũng như việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Vì vậy, theo chúng tôi, cần phải cải tiến phiên toà giám đốc thẩm theo hướng mở công khai với sự tham gia của các bên đương sự, người bào chữa nhằm thúc đẩy tranh tụng, tăng cường sự giám sát của nhân dân, phản biện của xã hội với mục tiêu làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án để các quyết định giám đốc thẩm thật sự chính xác, làm chuẩn mực cho việc giải quyết các vụ việc của hệ thống toà án. Thực tiễn pháp luật các nước như Cộng hoà Pháp, Hoa Kỳ... cũng cho thấy, khi phiên toà giám đốc thẩm được mở công khai, tính chất tranh tụng rất cao.

Từ phân tích trên, chúng tôi đề nghị bổ sung vào BLTTDS quy định về hình thức của phiên toà giám đốc thẩm như sau:

“Phiên toà giám đốc thẩm được mở công khai với sự tham gia của các bên đương sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người bào chữa”.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ

Trích dẫn từ: http://www.nclp.org.vn/thuc_tien_phap_luat/tinh-cong-khai-cua-phien-toa-giam-111oc-tham-dan-su

Chủ Nhật, 20 tháng 7, 2008

THÔNG BÁO VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

notary2 THS. LÊ ANH TUẤN - Cục Thi hành án dân sự - Bộ Tư pháp

Thông báo được hiểu là một hình thức chuyển tải nội dung thông tin nhất định đến đối tượng được thông tin, nhằm làm cho đối tượng được nhận thông tin biết được thông tin để thực hiện những hành vi nhất định. Trong hoạt động thi hành án dân sự, việc thông báo những thông tin về thi hành án đòi hỏi phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về nội dung, đối tượng thông báo về thi hành án không phải trong trường hợp nào cũng như nhau và do người có thẩm quyền thực hiện và theo hình thức nhất định.

1. Cơ sở pháp lý

Có thể nói thông báo về thi hành án là việc người có thẩm quyền thực hiện việc chuyển tải giấy tờ chứa đựng thông tin về thi hành án cho người được thông báo theo trình tự, thủ tục nhất định, nhằm bảo đảm cho việc thi hành án đúng pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự tham gia vào việc thi hành án. Các giấy tờ về thi hành án được thông báo bằng nhiều hình thức khác nhau và được chuyển tải đến đối tượng được thông báo có thể trực tiếp bằng những giấy tờ đó hoặc chỉ là nội dung của những giấy tờ đó.

Việc thông báo thông tin về thi hành án cho các đương sự biết và tham gia vào việc thi hành án nhằm tạo điều kiện để kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Đây là biện pháp thể hiện sự dân chủ với dân trong hoạt động của cơ quan thi hành án, để “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra” hoạt động của Chấp hành viên, cán bộ thi hành án; đồng thời bảo đảm quyền được thông tin, quyền được biết và tham gia vào việc thi hành án của các đương sự mà pháp luật đã quy định. Việc thông báo cho các đương sự biết về thi hành án được thực hiện đúng quy định sẽ hạn chế được những khiếu nại, tố cáo không đúng pháp luật về thi hành án của đương sự; giảm thiểu hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án của cơ quan thi hành án và cơ quan nhà nước khác có thẩm quyền.

Trong hệ thống các quy định pháp luật về thủ tục thi hành án dân sự, nhiều quy định về thủ tục do cơ quan thi hành án thực hiện phải báo cáo hoặc gửi các tài liệu, giấy tờ về thi hành án đến cơ quan, tổ chức có thẩm quyền và trong phạm vi nhất định phải được chuyển tải tới những người tham gia vào hoạt động thi hành án. Các quy định này đòi hỏi cơ quan thi hành án công khai, thể hiện sự minh bạch hoá hoạt động của Chấp hành viên, cán bộ thi hành án để các cơ quan chức năng phát hiện những sai sót, lệch lạc trong hoạt động thi hành án, kịp thời uốn nắn, bảo đảm thủ tục thi hành án đúng quy định của pháp luật, tránh tình trạng cơ quan thi hành án tuỳ tiện, quan liêu, dẫn đến vi phạm pháp luật trong quá trình thi hành án.

Quy định thông báo về thi hành án hiện nay chủ yếu tại các văn bản sau đây: Điều 34 Pháp lệnh Thi hành án dân sự ngày 14/01/2004. Nghị định số 164/2004/NĐ-CP ngày 14/9/2004 của Chính phủ về kê biên, đấu giá quyền sử dụng đất để đảm bảo thi hành án. Nghị định số 173/2004/NĐ-CP ngày 30/9/2004 của Chính phủ quy định thủ tục, cưỡng chế và xử phạt vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự. Mục 3 Công văn số 404/TP-THA ngày 24/02/2005 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số vấn đề về nghiệp vụ thi hành án. Thông tư số 06/2006/TT-BTP ngày 5/7/2006 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số thủ tục hành chính trong thi hành án dân sự. Thông tư số 07/2007/TT-BTP ngày 09/10/2007 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số vấn đề về thông báo việc kê biên tài sản thi hành án và cung cấp thông tin về tài sản kê biên tại các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp. Thông tư liên tịch số 36/2008/TTLT-BTC-BTP ngày 28/4/2008 của Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp về việc sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 03/2007/TTLT-BTC-BTP ngày 10/01/2007 hướng dẫn chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí đăng ký và phí cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm.

Việc thông báo về thi hành án có đặc điểm là một thủ tục do pháp luật quy định. Thủ tục thông báo về thi hành án do người có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật, đó có thể là Chấp hành viên, cán bộ thi hành án hoặc cá nhân, tổ chức khác. Đây là thủ tục tiến hành công việc chuyển tải những thông tin nhất định về thi hành án theo những quy định cụ thể được sắp xếp theo trình tự của pháp luật về thi hành án dân sự. Việc thực hiện thông báo về thi hành án không đúng trình tự pháp luật quy định được xác định là vi phạm thủ tục thông báo về thi hành án nói riêng, vi phạm thủ tục thi hành án nói chung.

Thông báo về thi hành án được thực hiện bằng một hoặc nhiều hình thức nhất định. Pháp luật quy định các hình thức thông báo cho các đương sự về các quyết định thi hành án theo hướng rộng rãi, công khai nhưng giản tiện, tiết kiệm, đồng thời quy định nghĩa vụ của những chủ thể trong việc thực hiện thông báo. Thông báo được coi là một nghĩa vụ. Nghĩa vụ thông báo về thi hành án xác định trách nhiệm của người thực hiện việc thông báo, người được thông báo. Tuỳ theo tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi của người có nghĩa vụ thực hiện thông báo, nhận thông báo gây ra mà phải gánh chịu chế tài do pháp luật quy định.

Thực tiễn thi hành án thời gian qua cho thấy, một số trường hợp việc gửi các quyết định về thi hành án nói riêng và thông báo về thi hành án nói chung không được chú trọng hoặc không đúng quy định của pháp luật dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan thi hành án, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Ví dụ: Trường hợp thi hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận 03/QĐ-HGT ngày 28/2/1999 của Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh L. Theo nội dung Quyết định này thì bà T phải thanh toán nợ cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện S số tiền là 209.269.900 đồng, trong đó tiền gốc là 108.100.000 đồng, tiền lãi là 101.169.900 đồng và án phí dân sự là 4.639.000 đồng.  Trong quá trình tổ chức thi hành án, do bà T không tự nguyện thi hành nên ngày 07/8/1999 Đội thi hành án huyện S (nay là Thi hành án dân sự huyện S) đã cưỡng chế kê biên toàn bộ nhà và trang thiết bị dùng cho việc kinh doanh nhà nghỉ trên diện tích đất 186,3 m2 tại phố Xuân Viên, thị trấn S, huyện S, là tài sản bà T đã thế chấp để vay tiền tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện S. Ngày 03/9/1999, Thi hành án dân sự huyện S định giá tài sản trên với giá 273.424.000 đồng và ký hợp đồng uỷ quyền cho Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh L để bán tài sản đã kê biên của bà T. Ngày 15/10/1999, Thi hành án dân sự huyện S tổ chức cưỡng chế giao nhà, đất trên cho người trúng đấu giá là ông Nguyễn Minh K. Sau khi bị cưỡng chế kê biên tài sản, bà T có nhiều đơn khiếu nại về việc bị cưỡng chế thi hành án. Trên cơ sở xác minh, cơ quan có thẩm quyền đã quyết định chấp nhận một phần khiếu nại của bà T về những nội dung Thi hành án dân sự huyện S có sai sót là không giao(thông báo) quyết định cưỡng chế giao tài sản của cơ quan thi hành án cho bà Trinh; kê biên một số tài sản là đồ dùng sinh hoạt của gia đình bà T và việc giải quyết khiếu nại của Thi hành án dân sự huyện S và Thi hành án dân sự tỉnh L chưa kịp thời. Trưởng Thi hành án dân sự huyện S có trách nhiệm hoàn trả cho bà T số tiền 2.540.000 đồng và lãi suất của số tiền này theo mức lãi suất tiền gửi Ngân hàng tính từ ngày phát mãi tài sản vì đã chi phí cưỡng chế không đúng quy định của pháp luật.

Trong giới hạn nhất định, việc thông báo về thi hành án có giá trị đối với người thứ ba, kể từ ngày người đó tiếp nhận thông báo. Đặc điểm này thể hiện rất rõ trong quy định về thông báo quyết định kê biên tài sản tại khoản 6 Điều 21 Nghị định số 173/2004/NĐ-CP ngày 30/9/2004 của Chính phủ, theo đó thông báo về quyết định kê biên tài sản có giá trị đối với người thứ ba, kể từ ngày thông báo đó được cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận. Kể từ thời điểm nhận được thông báo về việc kê biên tài sản, cơ quan đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản không thực hiện việc đăng ký chuyển dịch tài sản đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Các loại giấy tờ về thi hành án được thông báo 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 34 Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 chia làm 3 loại, bao gồm: Các quyết định về thi hành án được hiểu là các hành vi thể hiện bằng hành động của người có thẩm quyền tiến hành hoạt động thi hành án. Các quyết định về thi hành án được thể hiện bằng văn bản, như: Quyết định thi hành án, quyết định hoãn thi hành án, quyết định tạm đình chỉ thi hành án, quyết định trả đơn yêu cầu thi hành án, quyết định khôi phục thời hiệu thi hành án, quyết định cưỡng chế thi hành án.v.v.

Giấy báo về thi hành án được Bộ Tư pháp ban hành theo mẫu thống nhất để thông báo cho các đương sự biết những nội dung thông tin nhất định về thi hành án để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ. Giấy báo về thi hành án có nhiều loại, như: Giấy báo tự nguyện thi hành án, Giấy báo đương sự đến giải quyết việc thi hành án.

Giấy triệu tập về thi hành án do Chấp hành viên ban hành để triệu tập đương sự, người có liên quan đến việc thi hành án đến trụ sở cơ quan thi hành án hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thi hành án để thực hiện việc thi hành án. Căn cứ để ban hành giấy triệu tập về thi hành án dựa trên cơ sở nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên quy định tại khoản 2 Điều 14 Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004.

Những người có nghĩa vụ thực hiện thông báo gồm có: Chấp hành viên, cán bộ thi hành án. Thủ trưởng cơ quan nơi người được thông báo công tác. Cán bộ Tư pháp cấp xã. Người thân thích có năng lực hành vi dân sự đầy đủ cùng sống trong một gia đình với người được thông báo. Báo, đài phát thanh hoặc đài truyền hình của Trung ương. Báo, đài phát thanh hoặc đài truyền hình của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nếu xác định được đương sự đang ở tại địa phương đó. Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm xác nhận việc niêm yết thông báo.

Tuy có nhiều người có nghĩa vụ thực hiện thông báo, nhưng nghĩa vụ chính thuộc về Chấp hành viên, cán bộ thi hành án. Những người khác chỉ mang tính chất phối hợp với Chấp hành viên, cán bộ thi hành án, nhưng người nhận thay phải cam kết chuyển kịp thời, đúng thời gian quy định đến tận tay cho người được thông báo. Cơ quan báo, đài phải có văn bản xác nhận đã thực hiện xong việc thông báo và gửi cơ quan thi hành án để lưu hồ sơ thi hành án. Chính quyền địa phương xác nhận việc thực hiện niêm yết thông báo.

Pháp luật hiện nay yêu cầu cơ quan thi hành án không chỉ thông báo đến người được thi hành án, người phải thi hành án, mà còn phải thông báo đến người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án. Đối với một quyết định về thi hành án, theo quy định của Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 phải gửi cho Viện Kiểm sát cùng cấp để Viện Kiểm sát thực hiện việc kiểm sát thi hành án. Trong trường hợp uỷ thác thi hành án, thì quyết định uỷ thác thi hành án còn phải được gửi cho Viện Kiểm sát cùng cấp với cơ quan thi hành án nơi nhận uỷ thác. Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến hoạt động thi hành án cũng được thông báo một số nội dung về thi hành án.

Đối tượng được thông báo về thi hành án gồm có những người sau đây: Người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án, Viện Kiểm sát nhân dân, Toà án, chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người bị kết án cư trú và các tổ chức, cá nhân liên quan đến việc thi hành án.

3. Hình thức và thủ tục thông báo về thi hành án:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 34 Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004, các cơ quan thi hành án phải thực hiện các hình thức thông báo về thi hành án, cụ thể có 3 hình thức thông báo được thực hiện theo trình tự như sau:

3.1. Thông báo trực tiếp

Đây là hình thức thông báo đầu tiên, có 3 cấp độ:

- Chấp hành viên, cán bộ thi hành án phải thực hiện thông báo trực tiếp cho người được thông báo.

Hình thức thông báo về thi hành án này đòi hỏi Chấp hành viên hoặc cán bộ thi hành án phải giao trực tiếp các quyết định, giấy báo hoặc giấy triệu tập về thi hành án cho người được thông báo. Khi thông báo bằng hình thức này, người thông báo phải yêu cầu người nhận thông báo ký nhận là đã nhận được giấy tờ về thi hành án được giao. Tuỳ từng trường hợp cụ thể, người thông báo có thể lập biên bản giao nhận thông báo (đối với các quyết định về thi hành án) hoặc ký nhận vào phần cuống của thông báo (đối với giấy báo tự nguyện thi hành án, giấy triệu tập), nhưng biên bản hoặc cuống của thông báo phải thể hiện việc giao nhận thông báo về thi hành án và phải lưu vào hồ sơ thi hành án.

- Trường hợp không thực hiện được việc giao trực tiếp do có khó khăn trong việc giao trực tiếp thì việc thông báo được thực hiện bằng thư bảo đảm qua đường bưu điện.

Trường hợp khó khăn trong việc giao trực tiếp thông báo được hiểu là trường hợp khó khăn trong việc gặp gỡ trực tiếp người được thông báo để giao thông báo, như đường sá xa xôi từ trụ sở cơ quan thi hành án đến nơi người được nhận thông báo đang cư trú hoặc cơ quan thi hành án cùng một thời điểm có nhiều thông báo về thi hành án phải thông báo cho nhiều người được thông báo mà nếu giao thông báo trực tiếp bằng hình thức giao nhận thì không đủ người để thực hiện. Trường hợp người được thông báo cố tình không ký nhận thông báo thì cũng được xem là có khó khăn trong việc giao trực tiếp thông báo về thi hành án.

- Nếu người được thông báo vắng mặt thì các giấy tờ về thi hành án được giao cho Thủ trưởng cơ quan nơi người đó công tác, cán Bộ Tư pháp cấp xã hoặc người thân thích có năng lực hành vi dân sự đầy đủ cùng sống trong một gia đình với người được thông báo nhận thay.

Hình thức thông báo này được áp dụng nếu trong trường hợp đã xác định được địa chỉ cụ thể của người được thông báo, nhưng khi thông báo về thi hành án thì họ không có mặt do đi vắng (đi làm hoặc đi công tác, chữa bệnh.v.v). Khi thực hiện thông báo theo hình thức này phải lưu ý: Nếu người được thông báo đang công tác ổn định ở một cơ quan, đơn vị hoặc tổ chức, thì thông báo cần giao cho Thủ trưởng cơ quan nơi người được thông báo đang công tác. Trường hợp họ không phải là người đang công tác hoặc làm việc ổn định tại một cơ quan, tổ chức nào và cũng không có người thân thích có năng lực hành vi dân sự đầy đủ cùng sống trong một gia đình thì cần thông báo qua cán Bộ Tư pháp cấp xã. Trong trường hợp người được thông báo có người thân thích có năng lực hành vi dân sự đầy đủ cùng sống trong một gia đình với họ, thì giao cho người này nhận thay.

Trong trường hợp thông báo thực hiện thông qua người nhận thay, việc xác định thời điểm người được thông báo nhận được thông báo là thời điểm người nhận thay cam kết chuyển cho người được thông báo.

Ví dụ: Trong trường hợp thông báo quyết định thi hành án cho chồng là người phải thi hành án nhưng người chồng vắng mặt, ngày 03/01/2007 vợ của người đó nhận thay và cam kết sẽ chuyển quyết định thi hành án cho người phải thi hành án vào ngày 04/01/2007, thì ngày 04/01/2007 được xác định là thời điểm người phải thi hành án nhận được thông báo.

Khi thực hiện việc thông báo, cơ quan thi hành án phải lập biên bản xác định rõ trách nhiệm của người nhận thay trong việc chuyển thông báo cho người được thông báo.

Trường hợp vì lý do khách quan mà người đó cam kết nhận thay thông báo không chuyển thông báo cho người được thông báo, thì phải báo cáo cho cơ quan thi hành án biết. Trong trường hợp này, cơ quan Thi hành án thực hiện việc thông báo bằng hình thức niêm yết công khai hoặc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 34 Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004.

3.2. Niêm yết công khai

Đây là hình thức mà cơ quan thi hành án phải thực hiện nếu việc thông báo trực tiếp không thực hiện được. Việc niêm yết được thực hiện tại Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú và tại nơi ở của người được thông báo nếu xác định được nơi ở của người đó.

Về thủ tục, việc niêm yết công khai phải được lập biên bản, ghi rõ ngày, tháng, năm niêm yết, nội dung thông báo và người thực hiện niêm yết, có xác nhận của chính quyền địa phương.

Khi tiến hành niêm yết công khai, Chấp hành viên cần ấn định thời gian nhất định (kể từ ngày niêm yết) để người được thông báo thực hiện các quyền, nghĩa vụ của họ.

Ví dụ: Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày niêm yết, người phải thi hành án phải đến cơ quan thi hành án để giải quyết việc thi hành án.

Việc ấn định thời gian cần căn cứ vào từng vụ việc cụ thể, nhưng phải đảm bảo cho người được thông báo biết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của họ theo thông báo.

3.3. Thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng

Đây là hình thức thông báo mà cơ quan thi hành án phải thực hiện trong trường hợp việc thông báo trực tiếp hoặc niêm yết công khai không có kết quả. Hình thức thông báo công khai cũng có thể được thực hiện cùng với việc thực hiện niêm yết công khai.

Việc thông báo công khai được thực hiện 2 lần thông qua cơ quan báo, đài truyền hình, đài phát thanh của Trung ương hoặc của cấp tỉnh nơi đương sự cư trú hoặc có tài sản. Trong trường hợp này, cơ quan thi hành án phải lưu giữ trong hồ sơ thi hành án văn bản xác nhận đã thông báo của cơ quan đã thực hiện thông báo.

Trong việc thực hiện thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng, cần lưu ý là trường hợp có cơ sở xác định người được thông báo ở tại địa phương thì thông báo trên các đài, báo địa phương. Nếu có cơ sở xác định người đó không ở tại địa phương thì cơ quan thi hành án phải thông báo trên đài, báo Trung ương.

4 Thời hạn và nội dung thông báo về thi hành án

Tuỳ từng loại việc thông báo về thi hành án, pháp luật quy định thời hạn và nội dung thông báo về thi hành án có sự khác nhau. Thời hạn và nội dung thông báo về thi hành án đối với từng trường hợp cụ thể được quy định rải rác ở nhiều quy định trong pháp luật về thi hành án, trong đó có những loại thời hạn và nội dung cơ bản sau đây:

4.1. Thông báo quyết định về thi hành án

Đối với các quyết định thi hành án, pháp luật không quy định cụ thể thời hạn thông báo, nhưng theo quy định tại khoản 3 Điều 6 Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004, căn cứ vào quyết định thi hành án, Chấp hành viên định cho người phải thi hành án thời hạn không quá ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án để tự nguyện thi hành, trừ trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, huỷ hoại tài sản hoặc trốn trách việc thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 7 của Pháp lệnh này. Vì vậy, để đảm bảo hiệu quả thi hành án, thì sau khi ra quyết định thi hành án và thụ lý việc thi hành án, cơ quan thi hành án cần kịp thời thông báo quyết định thi hành án.

Đối với các quyết định khác về thi hành án mà pháp luật cũng không quy định cụ thể về thời hạn phải thực hiện thông báo (gửi), thì cơ quan thi hành án cũng cần kịp thời thông báo các quyết định đó cho những người được nhận quyết định đó.

Trong trường hợp thông báo về quyết định cưỡng chế thi hành án thì Chấp hành viên phải thông báo về dự trù chi phí cưỡng chế thi hành án cho người phải thi hành án biết trước khi tiến hành cưỡng chế thi hành án theo quy định tại khoản 4 Điều 28 Nghị định số 173/2004/NĐ-CP ngày 30/9/2004 của Chính phủ, trừ trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn trách việc thi hành án hoặc trường hợp họ không phải nộp chi phí cưỡng chế thi hành án. Nếu người được thi hành án phải chịu chi phí cưỡng chế thi hành án, thì Chấp hành viên cũng phải thông báo về dự trù chi phí cưỡng chế thi hành án cho người được thi hành án biết trước khi tiến hành cưỡng chế.

4.2. Thông báo về việc kê biên tài sản

Đây là loại công việc thông báo về thi hành án thường hay gặp, phức tạp và dễ sai sót nhất, do đó Chấp hành viên phải chú trọng trong việc thực hiện đối với từng trường hợp cụ thể theo cách thức, trình tự, thời gian và những tiêu chí khác của việc thông báo về kê biên tài sản.

a) Trước khi kê biên tài sản, Chấp hành viên phải thông báo cho người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền, lợi ích liên quan đến việc thi hành án biết về thời gian, địa điểm kê biên tài sản.

Đối với tài sản kê biên thuộc diện đăng ký quyền sở hữu, sử dụng, đăng ký giao dịch bảo đảm thì Chấp hành viên phải thông báo ngay sau khi ra quyết định kê biên tài sản cho các cơ quan sau đây biết việc kê biên tài sản: Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, cơ quan có thẩm quyền về đăng ký tài sản gắn liền với đất trong trường hợp kê biên quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; Cục Hàng không Việt Nam, trong trường hợp tài sản kê biên là máy bay; cơ quan đăng ký tàu biển và thuyền viên khu vực, trong trường hợp tài sản kê biên là tàu biển; Cục Cảnh sát giao thông đường bộ, Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ, trong trường hợp tài sản kê biên là phương tiện giao thông cơ giới đường bộ; cơ quan đăng ký thuộc Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp, trong trường hợp tài sản kê biên không thuộc một trong các trường hợp nêu trên, trừ trường hợp tài sản kê biên là tài sản có giá trị nhỏ hoặc tài sản kê biên đã được giao cho cá nhân, tổ chức có điều kiện bảo quản hay được bảo quản tại kho của cơ quan thi hành án; Các cơ quan có thẩm quyền đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng khác theo quy định của pháp luật.

Đối với quyền sử dụng đất, chậm nhất là bảy ngày làm việc trước ngày kê biên, Chấp hành viên phải thông báo trực tiếp bằng văn bản về việc kê biên quyền sử dụng đất cho người được thi hành án, người phải thi hành án, người nhận thế chấp, người nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến quyền sử dụng đất, các thành viên Hội đồng kê biên quyền sử dụng đất, Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp và Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất bị kê biên. Đồng thời với việc thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng của địa phương phải niêm yết việc kê biên quyền sử dụng đất tại trụ sở cơ quan thi hành án và Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất bị kê biên theo quy định tại Điều 11 Nghị định số 164/2004/NĐ-CP ngày 14/9/2004 của Chính phủ. Trong trường hợp người phải thi hành án có nhiều thửa đất hoặc nhiều loại đất mà có giá trị lớn hơn số tiền phải thi hành án, kể cả quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản, thì Chấp hành viên phải thông báo cho họ về việc họ được lựa chọn đề nghị kê biên thửa đất hoặc loại đất nào trước.

Đối với tài sản được cầm cố, thế chấp hợp pháp không thuộc diện được kê biên theo quy định tại khoản 4 Điều 41 Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 thì Chấp hành viên phải thông báo cho người nhận cầm cố, thế chấp biết nghĩa vụ của người phải thi hành án và yêu cầu họ thông báo để cơ quan thi hành án kê biên tài sản khi người cầm cố, thế chấp thanh toán nghĩa vụ theo hợp đồng cầm cố, thế chấp.

b) Trong việc thông báo về kê biên tài sản cho Trung tâm Đăng ký theo quy định tại điểm đ khoản 5 Điều 21 Nghị định số 173/2004/NĐ-CP ngày 30/9/2004 của Chính phủ, Thông tư số 07/2007/TT-BTP ngày 09/10/2007 của Bộ Tư pháp, Chấp hành viên cần lưu ý những nội dung quan trọng sau đây:

- Chấp hành viên không thực hiện việc thông báo về kê biên tài sản cho Trung tâm Đăng ký khi ra quyết định kê biên đối với các tài sản là: Ô tô, xe máy, phương tiện giao thông cơ giới đường bộ khác; phương tiện giao thông đường sắt.Tàu cá; phương tiện giao thông đường thuỷ nội địa. Máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, hàng tiêu dùng, các hàng hoá khác, kim khí quý, đá quý. Cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc và các loại giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật và được phép giao dịch. Quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng; quyền đòi nợ, các quyền tài sản khác thuộc sở hữu của người phải thi hành án phát sinh từ hợp đồng hoặc từ các căn cứ pháp lý khác. Quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp. Quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo quy định của pháp luật. Các động sản khác theo quy định tại khoản 2 Điều 174 của Bộ luật dân sự, trừ tàu bay, tàu biển. Các tài sản gắn liền với đất, trừ nhà ở, công trình kiến trúc khác, rừng sản xuất là rừng trồng, vườn cây lâu năm.

Tuy nhiên, Chấp hành viên không thực hiện việc thông báo về kê biên tài sản cho Trung tâm Đăng ký khi ra quyết định kê biên đối với các tài sản nêu trên trong các trường hợp sau đây: Tài sản kê biên đã được giao cho cá nhân, tổ chức có điều kiện bảo quản hoặc đã được bảo quản tại kho của cơ quan thi hành án theo quy định tại điểm c khoản 1 và khoản 2 Điều 25 Nghị định số 173/2004/NĐ-CP. Tổng giá trị tài sản theo quyết định kê biên (không bao gồm các tài sản là ô tô, xe máy, phương tiện giao thông cơ giới đường bộ khác; phương tiện giao thông đường sắt) không quá 10 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định. Giá trị của tài sản kê biên do Chấp hành viên tạm tính.

Trong trường hợp kê biên phương tiện giao thông cơ giới đường bộ thì Chấp hành viên có trách nhiệm thông báo về việc kê biên tài sản đó cho Cục Cảnh sát giao thông đường bộ, đường sắt hoặc Phòng Cảnh sát giao thông nơi phương tiện được đăng ký đồng thời với việc thông báo cho Trung tâm Đăng ký.

- Người có trách nhiệm thông báo về việc kê biên tài sản cho Trung tâm Đăng ký là Chấp hành viên ra quyết định kê biên hoặc Chấp hành viên được cơ quan thi hành án phân công thực hiện việc thông báo. Chấp hành viên thực hiện thông báo có trách nhiệm thông báo về việc kê biên các tài sản đúng thời hạn quy định; lập các văn bản liên quan đến thông báo về việc kê biên tài sản có đầy đủ nội dung theo mẫu được ban hành kèm theo Thông tư số 07/2007/TT-BTP ngày 09/10/2007 của Bộ Tư pháp và chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại của công chức trong trường hợp thông báo về việc kê biên tài sản không đúng thẩm quyền, không đúng thời hạn hoặc không đúng sự thật mà gây ra thiệt hại cho người thứ ba ngay tình khi xác lập giao dịch có đối tượng là tài sản đã bị kê biên.

Các Trung tâm Đăng ký được thành lập tại một số địa phương theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp có thẩm quyền giải quyết thông báo về việc kê biên tài sản và cung cấp thông tin về tài sản kê biên trong phạm vi cả nước, không phân biệt thẩm quyền theo địa giới hành chính nơi Trung tâm Đăng ký đặt trụ sở. Chấp hành viên có quyền lựa chọn một trong các Trung tâm Đăng ký để thông báo về việc kê biên tài sản và yêu cầu cung cấp thông tin. Việc giải quyết thông báo về việc kê biên tài sản và cung cấp thông tin tại các Trung tâm Đăng ký có giá trị pháp lý như nhau.

- Việc thông báo về kê biên tài sản có giá trị pháp lý đối với người thứ ba kể từ thời điểm thông báo cho đến khi hết hiệu lực của thông báo đó theo quy định. Khi ra quyết định kê biên tài sản, Chấp hành viên phải thông báo ngay về việc kê biên tài sản cho Trung tâm Đăng ký theo trình tự, thủ tục quy định. Đối với Thi hành án cấp quân khu, thi hành án dân sự tại các địa phương thuộc nông thôn, vùng sâu, vùng xa mà không thể thông báo ngay về việc kê biên tài sản cho Trung tâm Đăng ký thì thời hạn này được tăng thêm, nhưng không quá năm ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định kê biên tài sản.

Trong trường hợp gửi Văn bản thông báo về việc kê biên tài sản cho Trung tâm Đăng ký theo đường bưu điện thì thời hạn năm ngày được tính theo dấu xác nhận gửi đi của Bưu điện.

- Thời điểm có hiệu lực của thông báo về việc kê biên tài sản là thời điểm Trung tâm Đăng ký tiếp nhận Văn bản thông báo về việc kê biên tài sản thi hành án hợp lệ. Văn bản thông báo về việc kê biên tài sản thi hành án hợp lệ là văn bản có đầy đủ các nội dung theo mẫu quy định. Thời điểm có hiệu lực của thông báo về việc kê biên tài sản trong các trường hợp khác nhau được tính như sau:

+ Trường hợp Chấp hành viên yêu cầu sửa chữa sai sót khi kê khai về tên, số của giấy tờ xác định tư cách pháp lý của người phải thi hành án do kê khai không đúng thì thời điểm có hiệu lực của thông báo nêu trên là thời điểm Trung tâm Đăng ký nhận Văn bản yêu cầu sửa chữa sai sót nội dung thông báo về kê biên tài sản thi hành án hợp lệ.

+ Trường hợp Chấp hành viên yêu cầu sửa chữa sai sót khi kê khai về tài sản kê biên thì thời điểm có hiệu lực của thông báo nêu trên đối với phần tài sản đó là thời điểm Trung tâm Đăng ký nhận Văn bản yêu cầu sửa chữa sai sót nội dung thông báo về kê biên tài sản thi hành án hợp lệ.

+ Trường hợp Chấp hành viên yêu cầu thay đổi nội dung đã thông báo thì thời điểm có hiệu lực của thông báo về việc kê biên tài sản vẫn là thời điểm Trung tâm Đăng ký tiếp nhận Văn bản thông báo về việc kê biên tài sản thi hành án hợp lệ; nếu thông báo về việc bổ sung tài sản kê biên thì thời điểm có hiệu lực của thông báo đối với phần tài sản bổ sung là thời điểm Trung tâm Đăng ký nhận Văn bản yêu cầu thay đổi nội dung đã thông báo về kê biên tài sản thi hành án hợp lệ.

- Thời điểm Trung tâm Đăng ký nhận Văn bản thông báo về việc kê biên tài sản thi hành án được tính như sau: Trong trường hợp Văn bản thông báo về việc kê biên tài sản thi hành án được nộp trực tiếp tại Trung tâm Đăng ký thì thời điểm nhận được Văn bản đó là thời điểm Chấp hành viên nộp. Trong trường hợp Văn bản thông báo về việc kê biên tài sản thi hành án được gửi qua fax trong giờ làm việc của Trung tâm Đăng ký thì thời điểm nhận được Văn bản đó là thời điểm nhận qua fax; nếu gửi qua fax ngoài giờ làm việc của Trung tâm Đăng ký thì thời điểm nhận được Văn bản đó là thời điểm bắt đầu buổi làm việc tiếp theo. Trong trường hợp Văn bản thông báo về việc kê biên tài sản thi hành án được gửi qua đường bưu điện tới Trung tâm Đăng ký trong giờ làm việc thì thời điểm nhận được Văn bản đó là thời điểm nhận từ cơ quan bưu điện; nếu được gửi qua đường bưu điện tới Trung tâm Đăng ký ngoài giờ làm việc thì thời điểm nhận được Văn bản đó là thời điểm bắt đầu buổi làm việc tiếp theo.

Thông báo về việc kê biên tài sản có hiệu lực trong thời hạn năm năm, kể từ thời điểm Trung tâm Đăng ký nhận được Văn bản thông báo về việc kê biên tài sản hợp lệ, trừ trường hợp có yêu cầu xoá thông báo về việc kê biên trước hạn hoặc có yêu cầu gia hạn. Thời hạn mỗi lần gia hạn thông báo về việc kê biên tài sản là năm năm.

- Khi kê khai tên, số giấy tờ xác định tư cách pháp lý của người phải thi hành án, Chấp hành viên phải ghi đầy đủ, chính xác theo các loại giấy tờ, văn bản quy định.

+ Đối với cá nhân là công dân Việt Nam: Kê khai đầy đủ họ và tên theo Chứng minh nhân dân; số Chứng minh nhân dân; trong trường hợp không có Chứng minh nhân dân thì kê khai theo tên, địa chỉ của cá nhân đó được ghi trong bản án, quyết định của Toà án được thi hành hoặc kê khai theo tên, địa chỉ trong biên bản xác minh của Chấp hành viên. Trường hợp là quân nhân tại ngũ thì kê khai đầy đủ họ và tên theo Chứng minh thư quân đội, số Chứng minh thư quân đội.

+ Đối với cá nhân là người nước ngoài: Kê khai đầy đủ họ và tên theo Hộ chiếu; số Hộ chiếu; trong trường hợp không có Hộ chiếu thì kê khai theo tên, địa chỉ của cá nhân đó được ghi trong bản án, quyết định của Toà án được thi hành hoặc kê khai theo tên, địa chỉ trong biên bản xác minh của Chấp hành viên. Đối với cá nhân là người không quốc tịch cư trú tại Việt Nam: kê khai đầy đủ họ và tên theo Thẻ thường trú; số Thẻ thường trú; trong trường hợp không có Thẻ thường trú thì kê khai theo tên, địa chỉ của cá nhân đó được ghi trong bản án, quyết định của Toà án được thi hành hoặc kê khai theo tên, địa chỉ trong biên bản xác minh của Chấp hành viên.

+ Đối với pháp nhân có đăng ký kinh doanh: Kê khai tên theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; số Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Đối với pháp nhân không có đăng ký kinh doanh: kê khai tên theo quyết định thành lập hoặc giấy phép đầu tư (nếu là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài), số quyết định thành lập hoặc số giấy phép đầu tư.

- Phương thức thực hiện thông báo về việc kê biên tài sản và yêu cầu cung cấp thông tin của Chấp hành viên bằng việc:

+ Nộp trực tiếp tại Trung tâm Đăng ký.

+ Gửi qua fax tới Trung tâm Đăng ký.

+ Gửi qua đường bưu điện tới Trung tâm Đăng ký trong trường hợp Chấp hành viên của cơ quan thi hành án quân khu, cơ quan thi hành án cấp huyện thuộc khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa mà không có điều kiện gửi trực tiếp hoặc gửi qua fax.

Trung tâm Đăng ký từ chối tiếp nhận Văn bản thông báo về việc kê biên tài sản khi có một trong các căn cứ là văn bản thông báo về việc kê biên tài sản không có đầy đủ các nội dung kê khai theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư này; không thuộc thẩm quyền của Trung tâm Đăng ký; khi phát hiện có thông báo về việc kê biên tài sản trùng lặp với văn bản đã tiếp nhận trước đó; yêu cầu thay đổi nội dung đã thông báo, yêu cầu sửa chữa sai sót, yêu cầu gia hạn, yêu cầu xoá thông báo về việc kê biên tài sản không có trong Hệ thống dữ liệu của Trung tâm Đăng ký. Trung tâm Đăng ký từ chối cung cấp thông tin nếu văn bản yêu cầu cung cấp thông tin không có đủ nội dung kê khai theo mẫu quy định.

- Trung tâm Đăng ký có trách nhiệm giải quyết thông báo về việc kê biên tài sản và cung cấp thông tin ngay sau khi nhận được văn bản yêu cầu của tổ chức, cá nhân hoặc trong ngày làm việc; nếu Trung tâm Đăng ký nhận được sau ba giờ chiều, thì giải quyết xong trong ngày làm việc tiếp theo. Trong trường hợp phải kéo dài thời hạn, thì cũng không quá ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được các văn bản nêu trên hợp lệ.

Việc thông báo về kê biên tài sản và xác minh về tài sản dự định kê biên của Chấp hành viên không phải chịu lệ phí và phí.

- Trình tự, thủ tục thông báo về việc kê biên tài sản: Chấp hành viên nộp Văn bản thông báo về việc kê biên tài sản theo một trong các phương thức quy định. Sau khi nhận Văn bản thông báo về việc kê biên tài sản, Đăng ký viên kiểm tra và ghi thời điểm nhận thông báo (giờ, phút, ngày, tháng, năm), nếu văn bản đó không thuộc một trong các trường hợp từ chối. Đăng ký viên phải kịp thời nhập các nội dung kê khai trong Văn bản thông báo về việc kê biên tài sản vào Hệ thống dữ liệu. Trong thời hạn quy định, Trung tâm Đăng ký chứng nhận vào bản sao của Văn bản thông báo về việc kê biên tài sản và trao trực tiếp cho Chấp hành viên tại Trung tâm Đăng ký hoặc gửi qua đường bưu điện, tùy theo yêu cầu của viên hành viên.

Nếu Trung tâm Đăng ký phát hiện có giao dịch, hợp đồng được đăng ký theo tên của người phải thi hành án trong thời gian từ khi Chấp hành viên xác minh về tài sản dự định kê biên đến khi Trung tâm Đăng ký nhận được Văn bản thông báo về việc kê biên tài sản thì Trung tâm Đăng ký thông báo bằng văn bản cho Chấp hành viên về các giao dịch, hợp đồng đó cùng với việc cấp bản sao của Văn bản thông báo về việc kê biên tài sản.

- Thay đổi nội dung, gia hạn thời hạn, sửa chữa sai sót và xoáthông báo về kê biên tài sản thi hành án:

+ Trong thời hạn còn hiệu lực của việc thông báo về kê biên tài sản, Chấp hành viên gửi Văn bản yêu cầu thay đổi nội dung đã thông báo về kê biên tài sản thi hành án khi có một trong các căn cứ sau đây:Rút bớt, thay thế hoặc bổ sung tài sản so với số tài sản đã nêu trong Văn bản thông báo về việc kê biên tài sản mà Chấp hành viên đã gửi cho Trung tâm Đăng ký. Thay đổi thông tin về tên, địa chỉ hoặc số của giấy tờ xác định tư cách pháp lý của người phải thi hành án. Thay đổi các nội dung khác đã thông báo.

+ Chấp hành viên phải gửi văn bản yêu cầu gia hạn thông báo về việc kê biên tài sản thi hành án cho Trung tâm Đăng ký trước ngày chấm dứt thời hạn có hiệu lực của thông báo về việc kê biên tài sản thi hành án, nếu đến thời điểm đó mà tài sản kê biên chưa được xử lý hoặc giải toả kê biên; trong trường hợp hết ngày chấm dứt thời hạn có hiệu lực của việc thông báo đó mà Trung tâm Đăng ký không nhận được Văn bản yêu cầu gia hạn nêu trên thì có quyền tự động xoá thông báo về việc kê biên tài sản thi hành án.

+ Trong trường hợp Chấp hành viên phát hiện có sai sót trong thông báo về việc kê biên tài sản thì gửi Văn bản yêu cầu sửa chữa sai sót nội dung thông báo về kê biên tài sản thi hành án.

Trường hợp phát hiện có sai sót trong Hệ thống dữ liệu do lỗi của Đăng ký viên thì Đăng ký viên phải kịp thời báo cáo Giám đốc Trung tâm Đăng ký xem xét, quyết định việc chỉnh lý thông tin và gửi văn bản thông báo về việc chỉnh lý thông tin đó cho Chấp hành viên.

+ Trong thời hạn không quá ba ngày làm việc kể từ ngày giải toả việc kê biên tài sản hoặc hoàn tất việc xử lý tài sản kê biên, Chấp hành viên phải gửi Văn bản yêu cầu xoá thông báo về kê biên tài sản thi hành án.

Khi chấm dứt thời hạn có hiệu lực của thông báo về việc kê biên tài sản thi hành án mà Trung tâm Đăng ký không nhận được Văn bản yêu cầu xoá thông báo về kê biên tài sản thi hành án hoặc Văn bản yêu cầu gia hạn thông báo về việc kê biên tài sản thi hành án thì Trung tâm Đăng ký tự động xoá thông báo về việc kê biên tài sản thi hành án.

c) Trong trường hợp người phải thi hành án, người được thi hành án, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đang chấp hành hình phạt tù thì Chấp hành viên thực hiện việc thông báo các quyết định, giấy báo về thi hành án cho những người đó thông qua giám thị trại giam theo quy định tại khoản 3 Điều 21 Nghị định số 173/2004/NĐ-CP ngày 30/9/2004 của Chính phủ.

4.3. Thông báo về định giá tài sản

Trước khi định giá tài sản, Chấp hành viên phải thông báo về việc định giá tài sản cho những người được thông báo. Nội dung thông báo về định giá tài sản phải cụ thể về thời gian, địa điểm, tài sản định giá.

Đối với việc định giá quyền sử dụng đất thì ít nhất ba ngày làm việc trước khi định giá, Chấp hành viên phải thông báo bằng văn bản cho Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp biết; thông báo cho người phải thi hành án, người được thi hành án, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến quyền sử dụng đất đã kê biên biết về thời gian, địa điểm Hội đồng định giá làm việc để tham gia ý kiến vào việc định giá.

4.4. Thông báo về bán tài sản

Tuỳ hình thức bán tài sản (bán đấu giá thông qua Trung tâm dịch vụ bán đấu giá hoặc bán tài sản do cơ quan thi hành án thực hiện) mà tiến hành thông báo với thời hạn và nội dung phù hợp.

Trường hợp bán tài sản theo hình thức đấu giá thì phải thực hiện việc thông báo bán đấu giá tài sản theo các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự và quy định tại Điều 12 Nghị định số 05/2005/NĐ-CP ngày 18/01/2005 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản. Theo đó, người bán đấu giá tài sản phải niêm yết việc bán đấu giá tài sản tại nơi bán đấu giá, nơi trưng bày tài sản, nơi đặt trụ sở của người bán đấu giá tài sản, nơi có bất động sản bán đấu giá chậm nhất là bảy ngày đối với động sản, ba mươi ngày đối với bất động sản trước ngày mở cuộc bán đấu giá tài sản. Trong trường hợp người có tài sản bán đấu giá có yêu cầu thì thời hạn niêm yết việc bán đấu giá tài sản có thể rút ngắn theo thoả thuận của các bên.

Đối với tài sản bán đấu giá là động sản có giá khởi điểm từ mười triệu đồng trở lên và bất động sản thì đồng thời với việc niêm yết, người bán đấu giá tài sản phải thông báo công khai ít nhất hai lần, mỗi lần cách nhau ba ngày trên phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương hoặc địa phương về việc bán đấu giá tài sản. Thời hạn thông báo công khai được thực hiện theo quy định nêu trên.

Việc thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng cũng được thực hiện đối với tài sản bán đấu giá là động sản có giá khởi điểm dưới mười triệu đồng, nếu người có tài sản bán đấu giá yêu cầu. Niêm yết, thông báo công khai về việc bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất để thi hành án được thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

Niêm yết, thông báo công khai về bán đấu giá tài sản có các nội dung chủ yếu sau đây:

- Tên địa chỉ của người bán đấu giá tài sản.

- Thời gian, địa điểm bán đấu giá tài sản.

- Danh mục tài sản, số lượng, chất lượng của tài sản bán đấu giá.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá.

- Địa điểm, thời hạn trưng bày tài sản bán đấu giá.

- Địa điểm, thời hạn tham khảo hồ sơ tài sản bán đấu giá.

- Địa điểm, thời hạn đăng ký mua tài sản bán đấu giá.

- Những thông tin cần thiết khác liên quan đến tài sản bán đấu giá, gồm cả những thông tin mà người có tài sản bán đấu giá yêu cầu thông báo công khai.

4.5. Thông báo về nhận tiền, tài sản

Tiền, tài sản do cơ quan thi hành án đã thu được thì phải thực hiện việc thanh toán hoặc trả cho những người được nhận. Khi thực hiện việc thông báo về nhận tiền, tài sản, cơ quan thi hành án phải lưu ý một số trường hợp sau đây:

- Trong trường hợp một bản án, quyết định có nhiều khoản phải thi hành hoặc trường hợp người phải thi hành án phải thi hành nhiều bản án, quyết định của Toà án, nhưng chỉ có một số người làm đơn yêu cầu thi hành mà tài sản của người phải thi hành án không đủ để thi hành nghĩa vụ tài sản theo các bản án, quyết định của Toà án thì cơ quan thi hành án phải thông báo và ấn định thời hạn không quá một tháng cho những người được thi hành án khác về quyền yêu cầu thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 27 Nghị định số 173/2004/NĐ-CP ngày 30/9/2004 của Chính phủ và hướng dẫn tại mục 15.3 Công văn số 404/TP-THA ngày 24/02/2005 của Bộ Tư pháp.

- Đối với khoản tiền người phải thi hành án tự nguyện nộp nhưng người được thi hành án không nhận thì trong thời hạn không quá mười ngày làm việc kể từ ngày thu được số tiền, tài sản do người phải thi hành án nộp, cơ quan thi hành án thông báo cho người được thi hành án đến nhận theo hướng dẫn tại mục 10.2 Công văn số 404/TP-THA ngày 24/02/2005 của Bộ Tư pháp. Hết thời hạn một tháng kể từ ngày thông báo mà người được thi hành án không nhận thì cơ quan thi hành án làm thủ tục gửi tiền tiết kiệm, giữ tài sản tại kho của cơ quan thi hành án.

Đối với những khoản tiền khác chưa xác định được địa chỉ của người nhận hoặc đã có báo gọi nhưng đương sự chưa đến nhận, mà trong thời hạn một tháng kể từ ngày thông báo mà đương sự không đến nhận, thì cơ quan thi hành án làm thủ tục đứng tên gửi số tiền đó vào Ngân hàng theo loại tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn. Đồng thời mở sổ theo dõi ghi thông tin về sổ tiết kiệm cùng với tên người được thi hành án, số ngày, tháng, năm của bản án hay quyết định thi hành án. Hết thời hạn ba năm kể từ ngày thông báo mà người được thi hành án không đến nhận thì cơ quan thi hành án làm thủ tục chuyển nộp sung công quỹ số tiền, tài sản đó vào Ngân sách Nhà nước.    

- Đối với trường hợp quy định tại khoản điểm 3.2.1 khoản 3 mục III Thông tư số 67/2007/TT-BTP ngày 5/7/2007 của Bộ Tư pháp, Chấp hành viên viết giấy báo cho đương sự đến trụ sở cơ quan thi hành án, yêu cầu kế toán và thủ quỹ thi hành án làm thủ tục chi trả tiền cho họ. Trong giấy báo cần ghi rõ: yêu cầu đương sự khi đến nhận tiền phải mang theo chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ tuỳ thân có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trường hợp uỷ quyền cho người khác nhận thay phải có giấy uỷ quyền hợp pháp kèm theo chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ tuỳ thân có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.    

5. Nghĩa vụ, trách nhiệm và vấn đề xử lý vi phạm thông báo về thi hành án

- Người được thông báo có nghĩa vụ nhận thông báo và có trách nhiệm về việc cố tình không nhận thông báo. Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 quy định trách nhiệm của người được thông báo trong việc nhận thông báo, theo đó người được thông báo có trách nhiệm nhận thông báo, việc không nhận thông báo hoặc đã được thông báo hợp lệ mà không có mặt tại nơi thi hành án thì họ không còn quyền khiếu nại về việc không được thông báo hoặc không được thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình.

Trong trường hợp người phải thi hành án cố tình không nhận giấy báo, giấy triệu tập của cơ quan thi hành án thì bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 7 Nghị định số 76/2006/NĐ-CP ngày 02/8/2006 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp.

- Tuỳ theo mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra mà người có nghĩa vụ thông báo về thi hành án có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp người có nghĩa vụ thực hiện thông báo về thi hành án mà gây thiệt hại thì phải bồi thường. Mức bồi thường căn cứ vào thực tế thiệt hại phát sinh.

Đối với người có nghĩa vụ thực hiện thông báo về thi hành án mà gây thiệt hại không phải là cán bộ, công chức thì thủ tục giải quyết bồi thường thiệt hại thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

6. Chi phí thông báo về thi hành án

Việc thông báo về thi hành án trong từng trường hợp cụ thể phát sinh kinh phí nhất định. Có trường hợp tốn kém nhiều chi phí, nhưng cũng có trường hợp chi phí thông báo về thi hành án không nhiều, do vậy, cơ quan thi hành án phải xác định đúng mức chi và thanh toán đúng kinh phí từ nguồn chi cho từng việc thông báo về thi hành án.

6.1. Đối tượng phải chịu chi phí thông báo về thi hành án

- Đối với các khoản chi thông báo về cưỡng chế thi hành án, thì đây là một khoản chi phí cưỡng chế thi hành án, vì thế tuỳ từng trường hợp cụ thể, cơ quan thi hành án xác định trên cơ sở đối tượng phải chịu chi phí cưỡng chế thi hành án là người phải thi hành án hoặc người được thi hành án hoặc ngân sách nhà nước theo quy định tại Điều 38 Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004, Điều 28 Nghị định số 173/2004/NĐ-CP ngày 30/9/2004 của Chính phủ và hướng dẫn tại khoản 2, khoản 3 Thông tư liên tịch số 68/2006/TTLT-BTC-BTP ngày 26/7/2006 của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp hướng dẫn cơ chế quản lý tài chính về kinh phí tổ chức cưỡng chế thi hành án dân sự.

Các khoản chi phí thông báo về cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điểm d khoản 1 mục II Thông tư liên tịch số 68/2006/TTLT-BTC-BTP nêu trên, gồm có: Chi thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng (truyền hình, đài phát thanh, báo chí); chi cho những người có trách nhiệm tham gia vào buổi thông báo cưỡng chế thi hành án (cán bộ thi hành án, đại diện chính quyền địa phương, đại diện tổ chức xã hội và các thành phần khác).

- Đối với các khoản khác chi thông báo về thi hành án được thanh toán từ kinh phí của cơ quan thi hành án do ngân sách nhà nước cấp hoặc khoản thu hợp pháp khác (phí thi hành án).

6.2. Mức chi thông báo về thi hành án

- Trong hoạt động thi hành án, một số khoản chi có tính chất đặc thù, trong đó có khoản chi bồi dưỡng cho các đối tượng tham gia vào quá trình thông báo về thi hành án. Các đối tượng không hưởng lương từ ngân sách nhà nước khi tham gia vào quá trình thông báo về thi hành án được bồi dưỡng mức chi tối đa 25.000 đồng/người/buổi,nhưng nếu đã được hưởng phụ cấp lưu trú theo quy định thì không hưởng mức chi bồi dưỡng này.

- Các chi phí khác về thông báo về thi hành án được thanh toán căn cứ theo hợp đồng, hoá đơn, chứng từ chi tiêu thực tế, hợp pháp, hợp lệ theo quy định và được Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phê duyệt.

SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BỘ TƯ PHÁP

Trích dẫn từ: http://tha.moj.gov.vn/web/guest/home?p_p_id=cmsviewportlet_WAR_vsi_portlets_INSTANCE_XbBg&p_p_action=1&p_p_state=normal&p_p_mode=view&p_p_col_id=column-2&p_p_col_pos=0&p_p_col_count=1&_cmsviewportlet_WAR_vsi_portlets_INSTANCE_XbBg_struts_action=%2Fcmsviewportlet%2Fview&_cmsviewportlet_WAR_vsi_portlets_INSTANCE_XbBg_arcId=3977

Bài đăng phổ biến