Thứ Tư, 20 tháng 1, 2010

Toàn văn Thông tư 12/2010/TT-BTC xử lý tang vật VPHC là hàng hoá, vật phẩm dễ bị hư hỏng và quản lý số tiền thu được từ xử lý tang vật, phương tiện tịch thu sung quỹ nhà nước

THÔNG TƯ
CỦA BỘ TÀI CHÍNH SỐ 12/2010/TT-BTC NGÀY 20 THÁNG 01 NĂM 2010 
HƯỚNG DẪN VIỆC XỬ LÝ TANG VẬT VI PHẠM HÀNH CHÍNH LÀ HÀNG HOÁ, VẬT PHẨM DỄ BỊ HƯ HỎNG VÀ QUẢN LÝ SỐ TIỀN THU ĐƯỢC TỪ XỬ LÝ TANG VẬT, PHƯƠNG TIỆN TỊCH THU SUNG QUỸ NHÀ NƯỚC 
DO VI PHẠM HÀNH CHÍNH

Căn cứ Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2008;
Căn cứ Nghị định số 128/2008/NĐ-CP ngày 16 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2008;
Căn cứ Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước;
Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;
Bộ Tài chính hướng dẫn việc xử lý tang vật vi phạm hành chính là hàng hoá, vật phẩm dễ bị hư hỏng và quản lý số tiền thu được từ xử lý tang vật, phương tiện tịch thu sung quỹ nhà nước do vi phạm hành chính như sau: 
MỤC I
QUY ĐỊNH CHUNG 
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
1. Thông tư này hướng dẫn các nội dung sau:
a) Xử lý tang vật vi phạm hành chính là hàng hoá, vật phẩm dễ bị hư hỏng;
b) Quản lý số tiền thu được từ xử lý tang vật, phương tiện tịch thu sung quỹ nhà nước do vi phạm hành chính (bao gồm cả số tiền thu được từ xử lý tang vật vi phạm hành chính là hàng hoá, vật phẩm dễ bị hư hỏng và các tang vật, phương tiện vi phạm hành chính khác); trừ tang vật, phương tiện tịch thu sung quỹ nhà nước do vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả.
2. Việc quản lý số tiền thu được từ xử lý tang vật, phương tiện tịch thu sung quỹ nhà nước do vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả thực hiện theo hướng dẫn riêng của Bộ Tài chính; không thuộc phạm vi điều chỉnh của Thông tư này. 
MỤC II
XỬ LÝ TANG VẬT VI PHẠM HÀNH CHÍNH LÀ HÀNG HOÁ, 
VẬT PHẨM DỄ BỊ HƯ HỎNG

Điều 2. Hàng hoá, vật phẩm dễ bị hư hỏng
Hàng hoá, vật phẩm dễ bị hư hỏng bao gồm:
1. Hàng tươi sống, dễ bị ôi thiu, khó bảo quản;
2. Hàng thực phẩm đã qua chế biến, thuốc chữa bệnh mà hạn sử dụng còn dưới 30 ngày;
3. Các loại hàng hoá, vật phẩm khác nếu không xử lý ngay sau khi bắt giữ sẽ bị hư hỏng, hết thời hạn sử dụng.

Điều 3. Hình thức xử lý tang vật là hàng hoá, vật phẩm dễ bị hư hỏng
1. Bán trực tiếp (không thông qua đấu giá), trừ các trường hợp phải tiêu huỷ theo quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Tiêu huỷ đối với hàng hoá, vật phẩm đã bị hư hỏng không còn giá trị sử dụng.

Điều 4. Tổ chức xử lý tang vật là hàng hoá, vật phẩm dễ bị hư hỏng
1. Đối với hàng hoá, vật phẩm dễ bị hư hỏng xử lý theo hình thức bán trực tiếp:
a) Người có thẩm quyền quyết định tịch thu tang vật, phương tiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính (sau đây gọi chung là người có thẩm quyền tịch thu) tổ chức bán hàng hoá, vật phẩm cho tổ chức, cá nhân có nhu cầu mua.
Giá bán hàng hoá, vật phẩm dễ bị hư hỏng được xác định căn cứ vào chất lượng của hàng hoá, vật phẩm và bảng giá do Sở Tài chính công bố tại thời điểm gần nhất; trường hợp Sở Tài chính không công bố bảng giá hoặc hàng hoá, vật phẩm dễ bị hư hỏng không có trong bảng giá do Sở Tài chính công bố thì người có thẩm quyền tịch thu chủ trì, phối hợp với cơ quan tài chính quy định tại điểm b khoản này căn cứ vào chất lượng và giá bán trên thị trường của hàng hoá cùng loại để xác định giá bán cho phù hợp.
Người có thẩm quyền tịch thu có trách nhiệm tổ chức đánh giá chất lượng hàng hoá, vật phẩm bán ra; trường hợp cần thiết, người có thẩm quyền tịch thu mời cơ quan chuyên môn để phối hợp đánh giá chất lượng hàng hoá, vật phẩm.
b) Cơ quan tài chính cùng cấp với cơ quan của người có thẩm quyền tịch thu hoặc cơ quan tài chính tại địa bàn xảy ra hành vi vi phạm (trong trường hợp được cơ quan tài chính cấp trên uỷ quyền hoặc trường hợp người có thẩm quyền tịch thu thuộc cơ quan không tổ chức theo cấp hành chính) phối hợp với người có thẩm quyền tịch thu trong việc xác định giá bán hàng hoá, vật phẩm dễ bị hư hỏng.
c) Việc bán hàng hoá, vật phẩm dễ bị hư hỏng phải được lập biên bản. Nội dung chủ yếu của biên bản gồm: căn cứ thực hiện bán; thời gian, địa điểm bán; người bán; tên, chủng loại, số lượng, hiện trạng của hàng hoá, vật phẩm tại thời điểm bán; đơn giá bán, giá trị thanh toán; người mua và các nội dung khác có liên quan.

2. Đối với hàng hoá, vật phẩm dễ bị hư hỏng phải tiêu huỷ:
a) Người có thẩm quyền tịch thu thành lập Hội đồng xử lý để tiêu huỷ các hàng hoá, vật phẩm dễ bị hư hỏng quy định tại khoản 2 Điều 3 Thông tư này; Hội đồng xử lý do người có thẩm quyền tịch thu hoặc người được uỷ quyền làm Chủ tịch, các thành viên khác gồm: đại diện cơ quan tài chính quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đại diện các cơ quan chuyên môn liên quan.
b) Các hình thức tiêu huỷ: Tuỳ thuộc vào tính chất, đặc điểm của hàng hoá, vật phẩm và yêu cầu đảm bảo vệ sinh môi trường, việc tiêu huỷ được thực hiện theo các hình thức sau đây:
- Sử dụng hoá chất;
- Sử dụng biện pháp cơ học;
- Huỷ đốt;
- Huỷ chôn;
- Hình thức khác theo quy định của pháp luật.
c) Việc tiêu huỷ hàng hoá, vật phẩm phải được lập biên bản, có đầy đủ chữ ký của các thành viên Hội đồng xử lý. Nội dung chủ yếu của biên bản gồm: căn cứ và lý do thực hiện tiêu huỷ; thời gian, địa điểm tiêu huỷ; thành phần tham gia tiêu huỷ; tên, chủng loại, số lượng, hiện trạng của hàng hoá, vật phẩm tại thời điểm tiêu huỷ; hình thức tiêu huỷ và các nội dung khác có liên quan.

Điều 5. Quản lý tiền thu được từ việc xử lý tang vật là hàng hoá, vật phẩm dễ bị hư hỏng
Số tiền thu được từ việc xử lý tang vật là hàng hoá, vật phẩm dễ bị hư hỏng phải gửi vào tài khoản tạm gửi (tài khoản tiền gửi) của cơ quan của người có thẩm quyền ra quyết định tịch thu mở tại Kho bạc Nhà nước và được quản lý như sau:
1. Trường hợp tang vật bị tịch thu sung quỹ nhà nước theo quyết định của người có thẩm quyền thì việc quản lý, sử dụng số tiền thu được thực hiện theo quy định tại Điều 6 và Điều 7 Thông tư này;
2. Trường hợp tang vật không bị tịch thu sung quỹ nhà nước thì số tiền thu được phải trả cho chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp. 
MỤC III
QUẢN LÝ SỐ TIỀN THU ĐƯỢC TỪ VIỆC XỬ LÝ TANG VẬT, PHƯƠNG TIỆN 
TỊCH THU SUNG QUỸ NHÀ NƯỚC DO VI PHẠM HÀNH CHÍNH

Điều 6. Quản lý tiền thu được từ xử lý tang vật, phương tiện tịch thu sung quỹ nhà nước do vi phạm hành chính
1. Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán tang vật, phương tiện tịch thu sung quỹ nhà nước do vi phạm hành chính, sau khi trừ các khoản chi phí quy định tại khoản 1 Điều 7 Thông tư này, được nộp vào tài khoản tạm giữ hoặc tài khoản phải trả về tiền, tài sản tạm giữ chờ xử lý (sau đây gọi chung là tài khoản tạm giữ) của cơ quan tài chính mở tại Kho bạc Nhà nước, cụ thể như sau:
a) Đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính do người có thẩm quyền của cơ quan Trung ương và cấp tỉnh ra quyết định tịch thu sung quỹ nhà nước thì nộp vào tài khoản tạm giữ của Sở Tài chính mở tại Kho bạc Nhà nước cùng cấp;
b) Đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính do người có thẩm quyền của cơ quan cấp huyện trở xuống ra quyết định tịch thu sung quỹ nhà nước thì nộp vào tài khoản tạm giữ của cơ quan tài chính cấp huyện mở tại Kho bạc Nhà nước cùng cấp.
2. Số tiền thu được từ việc bán tang vật, phương tiện tịch thu sung quỹ nhà nước do vi phạm hành chính trên tài khoản tạm giữ của cơ quan tài chính mở tại Kho bạc Nhà nước quy định tại khoản 1 Điều này, sau khi trừ đi các chi phí quy định tại khoản 2 Điều 7 Thông tư này được nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước.

Điều 7. Quản lý, sử dụng các khoản chi liên quan đến xử phạt vi phạm hành chính
1. Tổ chức, cá nhân được giao bán tang vật, phương tiện tịch thu sung quỹ nhà nước do vi phạm hành chính quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định của mình trong việc thanh toán các khoản chi phí sau đây từ số tiền thu được do bán tang vật, phương tiện trước khi nộp vào tài khoản tạm giữ của cơ quan tài chính mở tại Kho bạc Nhà nước:
a) Chi phí vận chuyển, giao nhận, bảo quản tài sản từ khi có quyết định bắt giữ tang vật, phương tiện đến khi hoàn thành việc xử lý. Trường hợp cơ quan ra quyết định bắt giữ và tổ chức được giao bán tang vật, phương tiện đã được Nhà nước bố trí kho bãi, biên chế, phương tiện vận tải, kinh phí thường xuyên thì không được thanh toán các khoản chi phí liên quan đến vận chuyển, bảo quản những tài sản đó.
b) Phí bán đấu giá (nếu có).
2. Cơ quan tài chính quản lý tài khoản tạm giữ quy định tại Điều 6 Thông tư này có trách nhiệm thanh toán các khoản chi phí sau đây:
a) Chi phí điều tra, xác minh, bắt giữ gồm: chi thông tin liên lạc cho cán bộ tham gia xử lý; chi xăng dầu cho phương tiện kiểm tra, bắt giữ, dẫn giải, bảo vệ đối tượng và tang vật hoặc chi thuê phương tiện, địa điểm (nếu có); chi sửa chữa phương tiện kiểm tra bị hư hỏng khi tiến hành truy đuổi, bắt giữ; chi đăng tin, thông báo tìm chủ hàng. Mức chi tối đa không quá 5% số tiền thu được từ xử lý tài sản của vụ việc đó.
b) Chi phí mua tin (nếu có): mức chi mua tin của mỗi vụ việc tối đa là mười phần trăm (10%) số thu từ bán tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu của vụ việc đó nhưng không được vượt quá năm mươi triệu đồng (50.000.000 đồng). Đối với những vụ việc mà tang vật, phương tiện tịch thu là hàng giả, hàng hoá phải tiêu huỷ hoặc có giá trị thấp thì không khống chế chi phí mua tin theo tỷ lệ trên số thu nhưng tối đa không được quá ba mươi triệu đồng (30.000.000 đồng).
Việc thanh toán chi phí mua tin phải có đầy đủ chứng từ theo quy định; trường hợp yêu cầu phải giữ bí mật tên người cung cấp tin, việc thanh toán khoản chi mua tin căn cứ vào phiếu chi với đầy đủ chữ ký của người trực tiếp chi tiền cho người cung cấp tin, của thủ quỹ, kế toán và thủ trưởng đơn vị trực tiếp điều tra, xử lý vi phạm hành chính. Thủ trưởng đơn vị trực tiếp điều tra, xử lý vi phạm hành chính, vi phạm pháp luật hình sự phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực trong việc thanh toán chi mua tin, đảm bảo chi đúng người, đúng việc và hiệu quả.

c) Chi phí cho việc chăm sóc, cứu hộ động vật hoang dã từ thời điểm tạm giữ cho đến khi hoàn thành việc thả vào môi trường tự nhiên theo quy định hoặc chuyển giao cho vườn thú, trung tâm thí nghiệm, tổ chức khác theo quyết định của cấp có thẩm quyền.
d) Chi phí kiểm nghiệm, giám định, định giá trị tài sản tạm giữ làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt; chi bồi thường tổn thất do nguyên nhân khách quan (nếu có) từ thời điểm kiểm tra hoặc tạm giữ cho tới khi có quyết định phê duyệt phương án xử lý của cơ quan có thẩm quyền.
đ) Chi phí thuê sửa chữa tài sản để bán nếu tài sản phải sửa chữa mới bán được hoặc giá trị tăng thêm của tài sản lớn hơn so với chi phí sửa chữa (nếu có); chi khắc phục tổn thất về tài sản do nguyên nhân khách quan trong quá trình bán đấu giá (nếu có); chi phí thực tế và hợp lý trong trường hợp bán đấu giá không thành.
e) Các chi phí thực tế cho việc tổ chức bán tài sản của Hội đồng bán đấu giá tài sản cấp huyện, Trung tâm dịch vụ bán đấu giá cấp tỉnh hoặc cơ quan của người ra quyết định tịch thu. Hội đồng bán đấu giá tài sản cấp huyện hoặc Trung tâm dịch vụ bán đấu giá cấp tỉnh được cơ quan tài chính tạm ứng trước tối đa không quá 5% trên giá trị (theo giá khởi điểm) của tài sản bán đấu giá để có nguồn chi cho công tác bán đấu giá tài sản. Kết thúc việc bán đấu giá, Hội đồng bán đấu giá tài sản cấp huyện hoặc Trung tâm dịch vụ bán đấu giá cấp tỉnh phải thanh quyết toán số tiền tạm ứng theo quy định hiện hành.
g) Chi bồi dưỡng làm thêm giờ; bồi dưỡng công tác kiêm nhiệm của cá nhân tham gia điều tra, bắt giữ, quản lý, xử lý tài sản tịch thu sung quỹ nhà nước do vi phạm hành chính. Mức chi cụ thể do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là cấp tỉnh) quyết định theo đề nghị của Sở Tài chính.
h) Chi hỗ trợ ban đầu cho cán bộ, công chức thuộc lực lượng tham gia xử lý vi phạm hành chính bị thương, tai nạn hoặc gia đình của cán bộ, công chức hy sinh khi thi hành công vụ, mức chi tối đa không quá 20% số thu từ bán tang vật, phương tiện của vụ việc và do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định.
i) Chi cho công tác tuyên truyền; chi hỗ trợ mua sắm bổ sung trang thiết bị, phương tiện làm việc, đầu tư cơ sở vật chất phục vụ công tác xử lý vi phạm hành chính. Tổng mức chi cho các nội dung này do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định nhưng tối đa không quá 10% số thu từ bán tang vật, phương tiện của vụ việc.
k) Chi khen thưởng cho các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác quản lý, xử lý tài sản tịch thu sung quỹ nhà nước do vi phạm hành chính. Mức chi cụ thể được thực hiện theo quy định hiện hành của Chính phủ về thi đua khen thưởng.
l) Chi hội nghị sơ kết, tổng kết công tác bắt giữ, xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. Nội dung chi và mức chi thực hiện theo quy định hiện hành về chế độ công tác phí, chế độ hội nghị đối với các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập.
m) Các khoản chi phí thực tế, hợp lý cho việc tổ chức thanh lý, tiêu huỷ tài sản.
n) Các khoản chi khác có liên quan trực tiếp đến việc bắt giữ, tịch thu, bảo quản, xử lý tài sản.
3. Việc thanh toán các khoản chi phí quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này được căn cứ vào đề nghị của các cơ quan, tổ chức tham gia quản lý, xử lý tài sản; tính hợp lý, hợp lệ của các khoản chi và các quy định của Nhà nước có liên quan.

4. Nguồn kinh phí để chi cho các nội dung quy định tại khoản 2 Điều này được sử dụng từ số thu do bán tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu trên tài khoản tạm giữ của cơ quan tài chính mở tại Kho bạc Nhà nước. Trường hợp số tiền trên tài khoản tạm giữ không đủ để thanh toán thì đề nghị hỗ trợ từ ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước.
5. Đối với các tài sản chuyển giao cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị của Nhà nước quản lý, sử dụng, thì các chi phí phát sinh từ khi có quyết định phê duyệt phương án xử lý của cơ quan có thẩm quyền đến khi hoàn thành việc bàn giao do cơ quan, tổ chức, đơn vị được tiếp nhận tài sản chi trả. 
PHẦN IV
TỔ CHỨC THỰC HIỆN 
Điều 8. Tổ chức thực hiện
1. Thông tư này có hiệu lực sau 45 ngày, kể từ ngày ký.
Bãi bỏ các quy định của Bộ Tài chính sau đây:
a) Thông tư số 72/2004/TT-BTC ngày 15 tháng 7 năm 2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc quản lý và xử lý tang vật, phương tiện tịch thu sung quỹ nhà nước do vi phạm hành chính;
b) Thông tư số 04/2006/TT-BTC ngày 18 tháng 01 năm 2006 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư số 72/2004/TT-BTC ngày 15 tháng 7 năm 2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc quản lý và xử lý tang vật, phương tiện tịch thu sung quỹ nhà nước do vi phạm hành chính;
c) Điểm 2.1 khoản 2 Mục III Thông tư số 34/2005/TT-BTC ngày 12 tháng 5 năm 2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc xác định giá khởi điểm và chuyển giao tài sản nhà nước để bán đấu giá.
3. Đối với các trường hợp đã có quyết định tịch thu sung quỹ nhà nước trước thời điểm Thông tư này có hiệu lực thì việc quản lý số tiền thu được từ xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính thực hiện theo các quy định tại thời điểm ra quyết định tịch thu sung quỹ nhà nước; không áp dụng quy định của Thông tư này.
4. Trong quá trình thực hiện, nếu phát sinh vướng mắc, đề nghị các cơ quan, tổ chức, đơn vị phản ánh kịp thời về Bộ Tài chính để phối hợp giải quyết. 
KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Nguyễn Hữu Chí 

Chủ Nhật, 10 tháng 1, 2010

Toàn văn Thông tư 02/2010/TT-BTC bổ sung Thông tư 84 về thuế thu nhập cá nhân

 Số: 02 /2010/TT-BTC                                                               Hà Nội, ngày 11 tháng 01 năm 2010

              THÔNG TƯ
Hướng dẫn bổ sung Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và hướng dẫn thi hành Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 8/9/208 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật thuế Thu nhập cá nhân  
Căn cứ Luật Thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH 12 ngày 21 tháng 11 năm 2007 và văn bản hướng dẫn thi hành;
Căn cứ Luật quản lý thuế số 78/2006/QH 11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 và văn bản hướng dẫn thi hành;
Căn cứ Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08 tháng 9 năm 2008 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân;
Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2008 của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại công văn số 3045/VPCP-KTTH ngày 11/6/2009 và công văn số 8308/VPCP - KTTH ngày 23/11/2009 của Văn phòng Chính phủ về việc hướng dẫn thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân;
Bộ Tài chính hướng dẫn bổ sung Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính, như sau:
Điều 1. Bổ sung điểm 2.4 vào khoản 2, mục II, phần A như sau:
“2.4. Các khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công không tính vào thu nhập chịu thuế:
2.4.1. Không tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công một số khoản mà cán bộ công chức, cán bộ chiến sỹ thuộc lực lượng vũ trang được chi trả hoặc đơn vị chi trả thanh toán hộ các cá nhân trên theo chế độ quy định của nhà nước. Cụ thể như sau:
a. Khoản được nhận theo chế độ ban hành kèm theo Quyết định số 205/2004/QĐ-TTg ngày 10/12/2004 của Thủ tướng Chính phủ;
b. Phụ cấp phục vụ ban hành kèm theo Quyết định số 269/2005/QĐ-TTg ngày 31/10/2005 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ phụ cấp phục vụ;
c. Chế độ trang bị hoặc khoản được nhận theo chế độ khoán sử dụng xe ôtô phục vụ công tác ban hành kèm theo Quyết định số 59/2007/QĐ-TTg ngày 7/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy định tiêu chuẩn, định mức và chế độ quản lý, sử dụng phương tiện đi lại trong cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, công ty nhà nước;
d. Khoản được nhận theo chế độ nhà công vụ quy định tại Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 6/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật nhà ở và Quyết định số 09/2008/QĐ-TTg ngày 11/01/2008 của Thủ tướng Chính phủ ban hành nguyên tắc thiết kế và tiêu chuẩn sử dụng nhà ở công vụ;
Đối tượng áp dụng và các khoản được nhận không tính vào thu nhập chịu thuế theo hướng dẫn nêu trên phải phù hợp với các văn bản pháp luật hiện hành.
2.4.2. Không tính vào thu nhập chịu thuế các khoản được nhận của cán bộ công chức và những cá nhân khác nhận được từ các công việc sau: Tham gia ý kiến, thẩm định, thẩm tra các văn bản pháp luật, Nghị quyết, các báo cáo chính trị; tham gia các đoàn kiểm tra giám sát; tiếp cử tri, tiếp công dân; trang phục và các công việc khác có liên quan đến phục vụ trực tiếp hoạt động của Văn phòng Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội; từ Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng; từ Văn phòng Thành ủy, Tỉnh ủy và các Ban của Thành uỷ, Tỉnh ủy.
2.4.3. Ngoài các khoản được nhận không tính vào thu nhập chịu thuế của các đối tượng nêu tại điểm 2.4.1, điểm 2.4.2 nêu trên thì việc xác định các khoản phụ cấp được trừ khi tính thu nhập chịu thuế hoặc các khoản khoán chi không tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công được thực hiện theo hướng dẫn tại khoản 2, mục II, phần A Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính nêu trên và Điều 1 Thông tư số 62/2009/TT-BTC ngày 27/3/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn sửa đổi, bổ sung Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính”.
Điều 2. Bổ sung điểm 2.6 vào khoản 2 mục III, phần A như sau:
2.6. Việc miễn thuế thu nhập cá nhân theo quy định trên chỉ áp dụng đối với cá nhân chuyển nhượng nhà ở, đất ở duy nhất mà nhà ở, đất ở này đã được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng.
Đối với cá nhân đã có nhà ở, đất ở nay có phát sinh thêm việc chuyển nhượng hợp đồng góp vốn để có quyền mua nền nhà, căn hộ hoặc chuyển nhượng hợp đồng mua nền nhà, mua căn hộ thì thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng này không được áp dụng quy định miễn thuế thu nhập cá nhân”.
Điều 3. Bổ sung vào cuối khoản 4, mục III, phần A như sau:
Đối với các trường hợp nhận thừa kế, quà tặng là hợp đồng góp vốn để có quyền mua nền nhà, căn hộ không được miễn thuế thu nhập cá nhân theo quy định tại khoản 1 và khoản 4 của Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008 của Chính phủ”.
Điều 4. Bổ sung điểm 3.3 vào khoản 3, mục I, phần B như sau:
“3.3. Giảm trừ đối với khoản bảo hiểm bắt buộc:
3.3.1. Cá nhân cư trú có thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công đóng các khoản bảo hiểm bắt buộc theo quy định của Bộ Luật Lao động, Luật bảo hiểm xã hội được trừ các khoản bảo hiểm này vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế. Tiền đóng bảo hiểm của năm nào được trừ vào thu nhập chịu thuế của năm đó.
3.3.2. Cá nhân người nước ngoài là đối tượng cư trú tại Việt Nam, người Việt Nam là cá nhân cư trú nhưng làm việc tại nước ngoài có thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công ở nước ngoài tham gia đóng các khoản bảo hiểm bắt buộc theo quy định của quốc gia cá nhân cư trú mang quốc tịch tương tự quy định của pháp luật Việt Nam như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp bắt buộc và các khoản bảo hiểm bắt buộc khác (nếu có) thì được trừ các khoản phí bảo hiểm đó vào thu nhập chịu thuế từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công khi tính thuế thu nhập cá nhân. 
a). Căn cứ xác định các khoản bảo hiểm được trừ: Cá nhân thuộc đối tượng nêu tại điểm 3.3.2 nêu trên phải có các chứng từ chứng minh đã nộp các khoản bảo hiểm bắt buộc theo quy định của nước ngoài.
Chứng từ chứng minh bao gồm: chứng từ thu tiền của cơ quan bảo hiểm hoặc xác nhận của cơ quan chi trả thu nhập về số tiền bảo hiểm đã khấu trừ, đã nộp (trường hợp cơ quan chi trả nộp thay). 
b) Cá nhân người nước ngoài và người Việt Nam có tham gia đóng các khoản bảo hiểm nêu trên ở nước ngoài sẽ được tạm giảm trừ ngay vào thu nhập để khấu trừ thuế trong năm (nếu có chứng từ) và quyết toán theo số chính thức khi hết năm; trường hợp không có chứng từ để tạm giảm trừ trong năm thì sẽ giảm trừ một lần khi quyết toán thuế”.

Điều 5. Bổ sung điểm 3.5.3 vào điểm 3.5 mục II, phần B như sau:
3.5.3. Cá nhân có thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản áp dụng thuế suất 25% tính trên thu nhập tính thuế đáp ứng các điều kiện sau: 
a) Giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng chuyển nhượng và kê khai trên tờ khai thuế không thấp hơn giá do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định (đối với quyền sử dụng đất) hoặc không thấp hơn giá tính lệ phí trước bạ do Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh quy định (đối với nhà và các công trình xây dựng) tại thời điểm hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực theo quy định của Pháp luật.
Trường hợp giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng chuyển nhượng và kê khai trên tờ khai thuế thấp hơn giá do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định (đối với quyền sử dụng đất) hoặc thấp hơn giá tính lệ phí trước bạ do Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh quy định (đối với nhà và các công trình xây dựng) tại thời điểm hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực theo quy định của Pháp luật thì áp dụng thuế suất 2% tính trên giá do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định.
b) Giá mua và các chi phí liên quan (các chi phí liên quan đến cấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà; chi phí cải tạo đất, nhà; chi phí xây dựng; các chi phí có liên quan khác) người nộp thuế kê khai phải có hoá đơn, chứng từ hợp pháp làm căn cứ chứng minh giá mua và các chi phí liên quan mà người nộp thuế kê khai là đúng.
Đối với cá nhân chuyển nhượng hợp đồng góp vốn để có quyền mua nền nhà, mua căn hộ thì giá mua được xác định căn cứ vào chứng từ nộp tiền góp vốn và hoá đơn, chứng từ khác chứng minh các chi phí liên quan. Các chi phí liên quan đến việc chuyển nhượng bất động sản bao gồm cả các khoản trả lãi tiền vay của các tổ chức tín dụng để mua bất động sản. Riêng trường hợp mới chỉ góp một phần vốn (chưa nộp đủ số tiền theo hợp đồng) thì giá mua được xác định như sau:
Giá mua
=
{
Tổng số vốn phải góp theo hợp đồng
-
Phần vốn góp còn thiếu (chưa nộp)
}
+
Các chi phí khác có liên quan
Trường hợp người nộp thuế kê khai giá mua và chi phí liên quan nhưng không có đầy đủ hoá đơn, chứng từ chứng minh giá mua và chi phí hoặc có kèm theo hoá đơn, chứng từ nhưng qua kiểm tra cơ quan thuế phát hiện có hoá đơn, chứng từ không hợp pháp, không hợp lệ thì áp dụng thuế suất 2% trên giá chuyển nhượng.
c) Cá nhân chuyển nhượng bất động sản tự kê khai, tự xác định mức thuế suất áp dụng và chịu trách nhiệm về tính chính xác của hồ sơ kê khai.
Cơ quan thuế tiếp nhận hồ sơ khai thuế có trách nhiệm kiểm tra tờ khai và các tài liệu kèm theo hồ sơ, nếu đủ các điều kiện áp dụng thuế suất 25% tính trên thu nhập chịu thuế thì chấp nhận kết quả tính thuế của người chuyển nhượng. Trường hợp không chấp nhận kết quả tính thuế thì phải trả lời rõ để người chuyển nhượng biết.
d) Trường hợp cá nhân kê khai nộp thuế theo thuế suất 2% tính trên giá chuyển nhượng nhưng qua kiểm tra thấy giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng và kê khai thuế thấp hơn giá do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định thì tính thuế theo thuế suất 2% trên giá do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định”.
Điều 6. Bổ sung điểm 2.5.5 vào điểm 2.5 mục II, phần D như sau:
“2.5.5. Thủ tục kê khai, nộp thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng hợp đồng góp vốn, hợp đồng mua nền nhà, mua căn hộ:
a) Trường hợp chuyển nhượng phần vốn góp để được quyền mua nhà, căn hộ và trường hợp chuyển nhượng hợp đồng mua nhà, căn hộ thì trong hồ sơ khai thuế cá nhân sẽ nộp bản sao hợp đồng góp vốn hoặc hợp đồng mua nhà, mua căn hộ đã ký kết giữa cá nhân với tổ chức, cá nhân xây dựng, kinh doanh nhà thay cho việc nộp bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy tờ chứng minh quyền sở hữu nhà hoặc quyền sở hữu công trình trên đất theo hướng dẫn tại gạch đầu dòng thứ 2, điểm 2.5.2, khoản 2, mục II, phần D của Thông tư số 84/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính và chỉ tiêu [04] trong mẫu số 11/KK-TNCN phản ánh các giấy tờ về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà thì phản ánh hợp đồng góp vốn hoặc hợp đồng mua nhà, mua căn hộ đã ký kết giữa cá nhân với tổ chức, cá nhân xây dựng, kinh doanh nhà.  
Theo quy định của Bộ Luật Dân sự, hợp đồng chuyển nhượng bất động sản đã có giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp do cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền cấp phải có công chứng. Riêng trường hợp chuyển nhượng hợp đồng góp vốn, hợp đồng mua nền nhà, mua căn hộ nếu pháp luật quy định phải được tổ chức, cá nhân xây dựng, kinh doanh nhà chấp thuận chuyển nhượng và đã được chấp thuận thì không cần có công chứng.
Cá nhân chuyển nhượng hợp đồng góp vốn, hợp đồng mua nền nhà, căn hộ thực hiện kê khai, nộp thuế thu nhập cá nhân tại Chi cục Thuế địa phương nơi có bất động sản chuyển nhượng hoặc tại tổ chức, cá nhân xây dựng, kinh doanh nhà (nếu tổ chức đó được cơ quan thuế uỷ nhiệm thu).
b) Để tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân chuyển nhượng hợp đồng góp vốn, hợp đồng mua nền nhà, mua căn hộ kê khai, nộp thuế; Cục thuế căn cứ tình hình thực tế tại địa phương quyết định việc uỷ nhiệm cho tổ chức, cá nhân kinh doanh nhà, kinh doanh hạ tầng (kể cả sàn giao dịch bất động sản) thu thuế thu nhập cá nhân để cá nhân chuyển nhượng  kê khai, nộp thuế thu nhập cá nhân tại tổ chức, các nhân xây dựng, kinh doanh nhà, kinh doanh hạ tầng. Trình tự, thủ tục uỷ nhiệm thu, kinh phí uỷ nhiệm thu được thực hiện theo quy định của Luật Quản lý thuế.
c) Ngoài các loại giấy tờ trong hồ sơ khai thuế đã được hướng dẫn tại Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2009 của Bộ Tài chính, Thông tư số 161/2009/TT-BTC ngày 12/8/2009 của Bộ Tài chính; cơ quan thuế không được yêu cầu cá nhân chuyển nhượng nộp thêm bất kỳ giấy tờ nào khác”.
Điều 7. Bổ sung khoản 4 vào mục II phần D như sau:
“4. Về đăng ký thuế, khấu trừ thuế, khai thuế, nộp thuế, quyết toán thuế đối với các trường hợp khác.
4.1. Việc quản lý thuế (đăng ký thuế, khấu trừ thuế, khai thuế, nộp thuế, quyết toán thuế) đối với cán bộ, công chức có hệ số lương quy định tại Bảng lương ban hành kèm theo Quyết định số 128 QĐ/TW ngày 14/12/2004 của Ban bí thư Trung ương Đảng; Bảng lương ban hành kèm theo Nghị quyết số 730/2004/NQ-UBTVQH11 ngày 30/9/2004 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; bậc 3 bảng 1 lương chuyên gia cao cấp, mức 1-2 bảng lương cấp bậc quân hàm ban hành kèm theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ như sau:
Căn cứ vào thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công và các khoản thu nhập có tính chất tiền lương, tiền công thực trả, đơn vị trực tiếp chi trả tiền lương, tiền công thực hiện giảm trừ gia cảnh cho bản thân cá nhân có thu nhập và người phụ thuộc theo đăng ký. Trên cơ sở thu nhập sau khi trừ các khoản được giảm trừ và căn cứ vào biểu thuế lũy tiến từng phần quy định tại Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính đơn vị trực tiếp chi trả thu nhập từ tiền lương, tiền công khấu trừ thuế thu nhập cá nhân và nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định.
4.1.1. Đăng ký thuế:
Cán bộ, công chức có mức lương nêu trên khai tờ khai đăng ký thuế thu nhập cá nhân với cơ quan chi trả thu nhập hoặc cơ quan chi trả thu nhập khai hộ tờ khai đăng ký thuế. Căn cứ tờ khai đăng ký thuế, cơ quan chi trả thu nhập chuyển hồ sơ cho cơ quan thuế để cơ quan thuế cấp mã số thuế. Hồ sơ đăng ký thuế, trình tự và thủ tục đăng ký thuế thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 84/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính.
4.1.2. Khấu trừ thuế:
Đơn vị trực tiếp chi trả thu nhập từ tiền lương, tiền công có trách nhiệm khấu trừ thuế thu nhập cá nhân và kê khai nộp ngân sách Nhà nước theo quy định; việc khấu trừ thuế thu nhập cá nhân được thực hiện hàng tháng.
4.1.3. Giảm trừ gia cảnh:
Đơn vị trực tiếp trả tiền lương, tiền công căn cứ vào việc kê khai gia cảnh của từng cán bộ, công chức để xác định số người phụ thuộc được tính giảm trừ gia cảnh trước khi khấu trừ thuế.
4.1.4. Quyết toán thuế:
Đơn vị trực tiếp trả tiền lương, tiền công lập quyết toán thuế thu nhập cá nhân và thực hiện quyết toán thay cho từng cán bộ công chức thuộc trách nhiệm quản lý nếu có số thuế phải nộp lớn hơn số thuế đã khấu trừ hoặc số thuế đã khấu trừ lớn hơn số thuế phải nộp, lưu trữ hồ sơ khai thuế, quyết toán thuế tại đơn vị chi trả thu nhập mà không phải nộp cho cơ quan thuế.
Trường hợp khi quyết toán thuế thu nhập cá nhân đối với từng trường hợp cụ thể, nếu có số thuế đã tạm khấu trừ trong năm lớn hơn số thuế phải nộp thì đơn vị trực tiếp trả tiền lương, tiền công thực hiện hoàn trả số thuế nộp thừa hoặc thực hiện bù trừ số thuế đã nộp thừa vào số thuế phát sinh kỳ sau.
Khi lập báo cáo quyết toán số thuế thu nhập cá nhân đã khấu trừ trong năm, đơn vị chi trả thu nhập không phải lập danh sách cán bộ có mức lương nêu trên có số thuế phải khấu trừ vào bảng kê chi trả thu nhập của đơn vị.
4.1.5. Quản lý thông tin:
Đơn vị chi trả thu nhập chịu trách nhiệm quản lý theo quy định hiện hành về chế độ quản lý đối với các thông tin liên quan đến việc xác định thu nhập, đăng ký, kê khai, khấu trừ, quyết toán thuế thu nhập cá nhân của cán bộ, công chức quy định tại Điều này và các quy định của pháp luật có liên quan.
4.2. Bổ sung  hướng dẫn thêmvề quyết toán thuế thu nhập cá nhân của cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công như sau:
Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công nếu chỉ nhận thu nhập từ một đơn vị chi trả duy nhất có số thuế phải nộp lớn hơn số thuế phải khấu trừ  có thể thực hiện quyết toán qua đơn vị chi trả thu nhập.
Đơn vị chi trả thu nhập căn cứ vào thu nhập chịu thuế thực trả cho người lao động, bản đăng ký người phụ thuộc, các chứng từ chứng minh khoản giảm trừ đóng bảo hiểm (nếu có), đóng góp từ thiện, nhân đạo, khuyến học của người lao động giao cho để xác định lại nghĩa vụ thuế của người lao động thực hiện khấu trừ ngay số thuế phải nộp thêm để nộp vào ngân sách Nhà nước. Trên tờ khai tổng hợp quyết toán thuế và bảng kê chi tiết cá nhân nhận thu nhập phản ảnh thu nhập và số thuế đã khấu trừ sau khi quyết toán.
Đơn vị chi trả thu nhập chịu trách nhiệm quản lý hồ sơ gia cảnh, các chứng từ chứng minh các khoản đóng bảo hiểm, đóng góp từ thiện, nhân đạo, khuyến học (nếu có) tại đơn vị và phải xuất trình hoặc cung cấp khi cơ quan thuế có yêu cầu”.
Điều 8. Bổ sung vào phần Đ như sau:
1. Bổ sung vào cuối khoản 2:
“Trường hợp cá nhân có phát sinh hoàn thuế thu nhập cá nhân nhưng chậm nộp tờ khai quyết toán thuế theo quy định thì không áp dụng phạt đối với vi phạm hành chính khai quyết toán thuế quá thời hạn”.
2. Bổ sung vào cuối khoản 3:
“- Đối với trường hợp người sử dụng đất do nhận chuyển nhượng trước ngày 01/01/2009 nay nộp hồ sơ hợp lệ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ truy thu 01 lần thuế thu nhập cá nhân của lần chuyển nhượng cuối cùng, các lần chuyển nhượng trước đó không thực hiện truy thu thuế.
- Từ ngày 01/01/2009 thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân, cá nhân chuyển nhượng bất động sản có hợp đồng có công chứng hoặc không có hợp đồng chỉ có giấy tờ viết tay đều phải nộp thuế thu nhập cá nhân cho từng lần chuyển nhượng.
Điều 9. Tổ chức thực hiện:
1. Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 45 ngày kể từ ngày ký và được áp dụng ngay đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản. Riêng cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công, từ kinh doanh được áp dụng cho kỳ tính thuế năm 2009. Bãi bỏ các hướng dẫn về thuế thu nhập cá nhân trái với hướng dẫn tại Thông tư này.
2. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc đề nghị các tổ chức, cá nhân phản ánh kịp thời về Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế) để nghiên cứu giải quyết./.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
           Đỗ Hoàng Anh Tuấn

Thứ Bảy, 2 tháng 1, 2010

Không đăng ký kết hôn vẫn được pháp luật bảo vệ

PN - Chị Nguyễn Thị Trinh (Q.12) hỏi: Tôi và anh Hòa tự nguyện đến với nhau sau khi cả hai đều đã một lần dang dở. Tôi có một con riêng, anh ấy chưa có con.

Chúng tôi chung sống như vợ chồng đã hơn ba năm nhưng không đăng ký kết hôn. Tôi đã nhiều lần giục anh đi đăng ký nhưng anh cứ lần lữa. Tháng 8/2008, khi tôi mang thai thì anh bị mất việc, mọi chi tiêu trong gia đình mình tôi phải cáng đáng. Từ khi mất việc, anh còn trở chứng cờ bạc, rượu chè, tôi khuyên nhủ thì anh đánh đập, chửi rủa. Vừa mang thai, vừa nuôi con nhỏ (con riêng của tôi mới bốn tuổi), thêm gánh nặng gia đình, nay lại bị chồng đánh đập, tôi chỉ muốn ngã quỵ. Mỗi khi chồng xin tiền đi nhậu, tôi không cho là anh đánh chửi. Tôi chẳng dám nhờ cậy ai vì nghĩ chúng tôi không có đăng ký kết hôn, sẽ chẳng được giúp đỡ.

Trả lời: Tuy chị và anh Hòa chung sống không đăng ký kết hôn nhưng chị vẫn được pháp luật bảo vệ. Theo khoản 2, điều 2, Luật PCBLGĐ, nam nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng cũng thuộc đối tượng điều chỉnh của luật này. Việc chồng chị đánh đập, chửi rủa chị bị coi là hành vi BLGĐ, bị nghiêm cấm tại điều 8 của Luật. Chị có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền có biện pháp bảo vệ sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác của chị. Khi bị chồng đánh đập hoặc chửi rủa, chị có thể báo ngay cho tổ trưởng tổ dân phố, nơi chị đang sinh sống, để tổ chức hòa giải mâu thuẫn. Nếu anh ta vẫn tiếp tục như thế, tổ trưởng tổ dân phố sẽ đưa ra góp ý phê bình trong cộng đồng dân cư. Khi anh ta tiếp tục vi phạm, Luật PCBLGĐ còn có những hình thức xử lý nặng hơn như đưa vào cơ sở giáo dục. Vấn đề là chị phải có nghĩa vụ cung cấp thông tin liên quan đến tình trạng BLGĐ trong gia đình chị cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền khi họ yêu cầu.

Luật sư Vũ Thị Hoài Vân

(Văn phòng Trợ giúp pháp lý cho phụ nữ, Cục Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp)

Thứ Sáu, 1 tháng 1, 2010

Nước mắt đời nữ vệ sỹ

(Zing) - "Có những đêm trực một mình tự nhiên ứa nước mắt mong được ngủ nệm êm giống như những người phụ nữ bình thường... Nhưng rồi cảm giác hạnh phúc khi hoàn thành nhiệm vụ lại nhanh chóng xua tan ý nghĩ đó", T.L. giãi bày về cái nghiệp đã chọn.

Đầu năm 2003, T.L., theo chân người anh làm vệ sỹ ở công ty đào tạo bảo vệ C.N., rời bỏ mảnh đất Vĩnh Long và cùng một số bạn gái cùng quê để lên Sài Gòn tham gia đợt tuyển dụng nữ vệ sỹ, một nghề còn khá mới ở thời điểm đó với phái đẹp. Dáng người cao cùng với sức khỏe dẻo dai nhờ những năm tập luyện ở đội tuyển điền kinh địa phương đã giúp T.L. nhanh chóng lọt vào danh sách lớp nữ vệ sỹ đầu tiên của C.N.

"Tuy là nữ nhưng bọn em cũng chẳng nhận được bất cứ sự ưu ái nào của các thầy đào tạo cả. Những buổi tập thể lực đầu tiên là thời điểm mà tối nào về thân thể cũng rã rời đau nhức với những vết bầm tím mà không dám khóc chỉ vì sợ nếu có người biết thì sẽ không được làm vệ sỹ chuyên nghiệp", T.L. kể.

Nước mắt đời nữ vệ sỹ

Ảnh minh họa. Người mẫu: Zing Model Club.

Sự phát triển ồ ạt trên diện rộng của những khu công nghiệp may mặc, giày da, bánh kẹo... với đa phần nhân công là nữ giới, cộng thêm sự xuất hiện liên tục của hàng loạt hệ thống siêu thị lớn ở Việt Nam đã làm nảy sinh nhu cầu đòi hỏi các bảo vệ phải là nữ bởi có rất nhiều tình huống nam giới khó có thể giải quyết tốt những rắc rối phát sinh.

Tại cửa ra vào dành cho nhân viên ở siêu thị M. ở quận Thủ Đức, luôn luôn có sự xuất hiện của 2 bảo vệ, hoặc là một nam một nữ, hoặc cả 2 đều là nữ, chứ không bao giờ có cùng lúc 2 bảo vệ nam. Lý do rất đơn giản, tại đây, mọi nhân viên của siêu thị khi đi qua đều bị khám xét người rất kỹ càng, để đề phòng trường hợp có người giấu đồ của siêu thị vào trong quần áo và tuồn ra ngoài.

"Ngày trước quả là có nhân viên của siêu thị giấu đồ, chủ yếu là mỹ phẩm, những thứ nhỏ mà đắt tiền, trong người và mang về nhà thật, các anh bảo vệ nam khi ấy chỉ nhìn qua không thấy gì bất thường là cho đi qua nên siêu thị bị thất thoát nhiều", chị Vân, nhân viên thu ngân của siêu thị M., cho biết. "Từ khi công ty bảo vệ đưa thêm vệ sỹ nữ tới, việc kiểm soát dễ dàng hơn".

"Ngày nào chúng tôi cũng phải đi qua cánh cửa đó và phải giơ cao 2 tay để họ 'rờ rẫm' khắp người. Những ngày đầu thì còn khó chịu, chứ lâu dần thành quen, như một phản xạ ấy. Nhiều khi tôi và chị vệ sỹ vừa trò chuyện vừa thực hiện các thao tác đó mà chẳng có cảm giác gì là đang lục soát và bị lục soát cả".

Những ca khó xử đầu tiên

Công việc đầu tiên được giao của T.L. là ở một trung tâm mua sắm thời trang lớn giữa Sài Gòn. "Những ca trực đầu tiên thực sự làm tôi căng thẳng. Mắt lúc nào cũng phải căng ra để nhìn theo động thái của tất cả các khách hàng xung quanh. Nhìn thấy ai đó có dáng vẻ nghi nghi là phải lưu ý từ lúc họ bước vào cửa cho đến khi bước ra theo đúng những gì được dạy".

Nước mắt đời nữ vệ sỹ

May mắn là trong cả tuần đầu tiên, mọi việc diễn ra suôn sẻ. Nhưng đến ca trực thứ 8, một sự cố diễn ra mà khiến T.L. nhớ mãi như một kinh nghiệm xương máu.

"Lúc ấy, nhân viên bán hàng thông báo qua bộ đàm về một trường hợp khách hàng bị nghi là đã giấu đồ của siêu thị trong người. Tôi tiến về phía người đó và nhận ra đó là một thiếu nữ trẻ, khá xinh xắn nhưng trang điểm đậm, ăn vận bó sát người và tôi không thấy cô ấy cầm theo thứ gì".

"Khi tôi ngơ ngác thì người thu ngân khẳng định: 'Con bé nó mặc áo lót của siêu thị đấy chị'. Tôi tiến đến nhẹ nhàng: 'Chào chị, phiền chị cho tôi kiểm tra vì camera cho thấy chị có những hành vi bất thường trong phòng thay đồ'. Thực ra chẳng có cái camera nào trong phòng thay đồ cả, chẳng qua đó là cái cớ đầu tiên hiện ra trong đầu tôi để buộc cô gái thuận theo. Nào ngờ, cô gái quay phắt lại, nói như quát: 'Bà có bị điên không, trông tôi như thế này mà bà bảo tôi ăn cắp à?'. Tôi càng nhỏ nhẹ thì cô gái càng văng tục nhiều hơn. Buộc tôi phải cứng giọng yêu cầu cô ta cùng vào phòng điều hành".

"Khi tôi nói về chiếc áo lót thì cô ta càng hung hăng: 'Bây giờ tao cởi đồ ra mà mày không tìm thấy món đồ ăn cắp thì tao sẽ kiện cả siêu thị này'. Lập tức cô ta cởi bỏ đồ bên ngoài trước mặt tôi và 2 nhân viên thu ngân nữ. Quả là trên người cô ta chỉ có duy nhất một chiếc áo lót. Đúng là chiếc áo lót cùng kiểu đang bán ở siêu thị nhưng rất khó để cho rằng đó là món đồ cô ta ăn cắp bởi chẳng lẽ, khách hàng này vào trung tâm mua sắm này mà không mặc áo bên trong?".

"Khi cả 3 chúng tôi còn đang ngượng chín mặt vì khó xử thì cô gái trẻ mặc lại quần áo và bỏ đi, sau khi chỉ mặt tôi nói: 'Con kia mày nhớ đấy, tao sẽ cho mày biết tay!'. Nếu chuyện đó xảy ra bây giờ thì có lẽ tôi đã có cách giải quyết êm, nhưng lúc đó tôi không hề có chút kinh nghiệm nào nên đã để đối tượng làm chủ tình thế. Sau này chúng tôi tìm thấy con chip từ gắn vào chiếc áo lót bị rơi ra nằm trong đống quần áo khách mặc thử nhưng không mua. Tôi bị khiển trách và bị chuyển qua trung tâm khác".

Trường hợp của Thanh, nữ vệ sỹ ở một khu công nghiệp Singapore tại Bình Dương thì khác hẳn. Không biết vì lý do gì, gần đến giờ tan tầm, 2 nữ công nhân lao vào ẩu đả làm náo loạn cả một khu sản xuất. Thanh được gọi đến để làm dịu tình hình khi mà các nam đồng nghiệp của cô đều không có mặt tại khu vực đó. Khi Thanh níu tay một "võ sỹ" thì người còn lại nhân cơ hội đó lại tát vào mặt người bị giữ. Điều đó khiến một số nữ công nhân xung quanh cho rằng Thanh về phe với nữ nhân viên vừa tung ra cú tát và lao vào tấn công luôn cả cô bảo vệ.

Nước mắt đời nữ vệ sỹ

Sự việc chỉ được dẹp êm khi các nam bảo vệ biết chuyện chạy lại. Nhưng Thanh cũng bị kỷ luật vì không khéo léo trong cách giải quyết ẩu đả. "Lẽ ra thay vì trực tiếp can thiệp lúc họ đánh nhau, tôi phải tìm cách khiến cả 2 dừng lại và đưa họ đến nơi khác để hòa giải", Thanh nói.

Giờ thì Thanh và T.L. cùng đang là bảo vệ của một bệnh viện quốc tế ở Sài Gòn, nơi mọi thứ "ít phức tạp" hơn theo lời nhận xét của các cô.

Long đong phận gái theo nghiệp đàn ông

Chẳng mấy khi được nói cười trong giờ làm việc, lúc nào cũng nghiêm sắc mặt và luôn xuất hiện trong bộ trang phục "khuôn hộp, cứng nhắc" kiểu nhà binh, các nữ vệ sỹ thường tránh nhắc đến chuyện nhân duyên của mình.

"Phàm nữ giới mà làm các công việc của đàn ông thì thường bị cho là 'quá nam tính' và ít nhiều mất đi tính hấp dẫn trong mắt những người khác giới", T.L. nói như thể cô là chuyên gia tâm lý, nhưng kỳ thực đó là lời giãi bày rất thật của người... trong cuộc. "Làm nghề vệ sỹ, tôi ít khi được tiếp xúc với đàn ông trong dáng vẻ bình dị. Một phần cũng vì tính chất công việc khiến tôi chẳng có thời gian tìm hiểu", người phụ nữ 27 tuổi chia sẻ về chuyện gia đình. "Có những đêm trực một mình tự nhiên ứa nước mắt mong được ngủ nệm êm giống như những người phụ nữ bình thường... Nhưng rồi cảm giác hạnh phúc khi hoàn thành nhiệm vụ lại nhanh chóng xua tan ý nghĩ đó", T.L. giãi bày về cái nghiệp đã chọn.

Theo lời kể của T.L., một nữ đồng nghiệp và là bạn thân của cô từng có bạn trai là giáo viên. Mối tình của họ từng gây ra sự ghen tị nhưng cũng là động lực để tiếp tục làm nghề của các thành viên trong đội nữ vệ sỹ của công ty C.N.. "Nhưng một chuyện xảy ra đã phá hỏng tất cả. Hôm đó Hồng cùng người yêu đi trên đường và bị một chiếc xe đi ngược chiều va phải. Người trên chiếc xe kia gây sự trước nhưng trong lúc anh người yêu chưa kịp phản ứng thì Hồng lại chủ động 'ra tay'... Sau hôm đó, anh người yêu gửi cho Hồng tin nhắn qua điện thoại: 'Anh không cần một người phụ nữ che chở cho mình'. Và chuyện tình yêu của họ chấm dứt."

TÂM ANH

Sẽ có luật bảo vệ người tố cáo tham nhũng

Chính phủ nhận thấy cần phải có một luật riêng để bảo vệ người tố cáo tham nhũng tốt hơn, tạo niềm tin để người dân, cán bộ mạnh dạn tố cáo sai phạm.

Sáng 26/11 tại Hà Nội, Thanh tra Chính phủ và Ban Chỉ đạo Phòng chống tham nhũng Trung ương đã tổ chức buổi đối thoại về phòng, chống tham nhũng lần thứ 6 năm 2009.

Ông Vũ Tiến Chiến, Chánh Văn phòng Ban chỉ đạo Trung ương về Phòng chống tham nhũng cho biết, mới đây tổ chức Minh bạch quốc tế đã công bố năm 2009 Việt Nam tăng một bậc trong bảng xếp hạng về phòng chống tham nhũng so với năm 2008.

Điều này khẳng định những cố gắng của Chính phủ Việt Nam trong việc nghiêm túc thực hiện minh bạch và phòng chống tham nhũng. Tuy nhiên, các kết quả khảo sát về phòng chống tham nhũng cho thấy, tình hình tham nhũng ở Việt Nam vẫn còn nghiêm trọng, phức tạp. Một bộ phận cán bộ, nhân dân còn lo lắng về tính hiệu quả của các giải pháp chống tham nhũng hiện nay.

Trong năm 2009, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thành lập Đoàn giám sát công tác phòng chống tham nhũng và việc phát hiện, xử lý hành vi tham nhũng của các cơ quan có thẩm quyền như: thanh tra, viện kiểm sát, toàn án, Ban Chỉ đạo phòng chống tham nhũng ở các địa phương...

Qua đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận thấy một số biện pháp phòng ngừa chưa được thực hiện nghiêm túc, mang nặng tính hình thức, tác dụng còn hạn chế như việc trả lương qua tài khoản, kê khai tài sản...Một số vụ án tham nhũng nghiêm trọng chậm xử lý, tỷ lệ bị cáo được hưởng án treo cao, hiệu quả hoạt động của các Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng địa phương thấp.

Các đại biểu quốc tế cho rằng, Việt Nam cần có cơ chế mạnh mẽ hơn nữa trong việc cung cấp thông tin cho cơ quan truyền thông, báo chí trong những vụ việc tham nhũng.

Đại biểu đến từ Bộ Phát triển (Vương quốc Anh) khẳn định, báo chí đóng vai trò rất lớn trong việc điều tra, phát hiện tham nhũng. Tuy nhiên, có vẻ như báo chí Việt Nam còn gặp khó khăn trong việc chủ động tự mình điều tra tham nhũng vì sự hợp tác của cơ quan chức năng chưa tốt.

Đại biểu đến từ Đại sứ quán Mỹ lại đặt câu hỏi: vì sao công tác điều tra, giám sát chống tham nhũng được đẩy mạnh trong thời gian qua, nhưng việc xử lý án tham nhũng lại giảm xuống.

Ông Chiến khẳng định, từ đầu năm đến nay, số vụ án tham nhũng bị phát hiện và xét xử đều tăng chứ không hề giảm. Nhiều vụ án tham nhũng lớn đã được Chính phủ chỉ đạo điều tra, xét xử như vụ Đề án 112, vụ cầu Bãi Cháy - PMU18, vụ Công ty Vifon...

Về vai trò của báo chí, theo ông Trần Đức Lượng, Phó tổng Thanh tra Chính phủ, báo chí Việt Nam hoạt động theo Luật Báo chí và hoàn toàn có đủ điều kiện để tự mình điều tra án tham nhũng.

Thực tế, các cơ quan chức năng rất coi trọng và sử dụng rất nhiều thông tin của báo chí trong việc phát hiện các vụ án tham nhũng. Các thông tin báo chí nêu về tham nhũng đều được chỉ đạo điều tra nhanh chóng.

Các đại biểu quốc tế cũng cho rằng, Chính phủ Việt Nam cần phải tăng cường hơn nữa việc bảo vệ người tố cáo tham nhũng, đồng thời muốn biết khi nào Dự luật Bảo vệ người tố cáo chống tham nhũng được Chính phủ trình Quốc hội và tham vấn ý kiến của công chúng.

Ông Lượng khẳng định, thời gian qua, Chính phủ Việt Nam đã có nhiều cố gắng trong việc bảo vệ người tố cáo tham nhũng vì đây là một kênh quan trọng trong việc phát hiện tham nhũng.

"Mặc dù Luật Phòng chống tham nhũng đã có những điều khoản bảo vệ người tố cáo, nhưng Chính phủ nhận thấy vẫn cần thiết phải có một luật riêng về việc này, nhằm bảo vệ tốt hơn người tố cáo, tạo niềm tin để người dân, cán bộ mạnh dạn tố cáo tham nhũng", ông Lượng khẳng định.

Thanh tra Chính phủ và Ban Chỉ đạo Phòng chống tham nhũng Trung ương cũng đã có nhiều buổi gặp gỡ, đối thoại để tôn vinh và lắng nghe ý kiến của những người có thành tích trong tố cáo tham nhũng. Ban chỉ đạo cũng đang xây dựng các biện pháp bảo vệ người tố cáo, trước hết là đảm bảo bí mật nhân thân nếu họ có yêu cầu.

"Đây là việc khó, nên Việt Nam không cầu toàn mà sẽ vừa làm vừa rút kinh nghiệm và sẽ tham khảo kinh nghiệm của các tổ chức quốc tế". Ngoài ra, Ban Chỉ đạo và Thanh tra Chính phủ cũng có nhiều kênh như hộp thư tố giác, đường dây nóng để tiếp nhận tốt hơn những tố giác tham nhũng.

Theo số liệu của Ban Chỉ đạo Phòng, chống tham nhũng Trung ương, 10 tháng đầu năm 2009, cả nước đã khởi tố 247 vụ án tham nhũng với 534 bị can (tăng 16,5% số vụ và 18,6% số bị can so với cùng kỳ 208); truy tố 265 vụ với 641 bị can; xét xử 252 vụ với 574 bị can.

Đến hết quý III/2009, Thanh tra Chính phủ đã kết thúc 12 trong số 14 cuộc thanh tra được triển khai trong năm 2009. Qua đó, phát hiện sai phạm 11.161 tỷ đồng, gần 150.000 USD, hơn 3.200 m2 nhà, đất và 21.500 cổ phần. Thanh tra Chính phủ đã kiến nghị thu hồi cho ngân sách Nhà nước 1.178 tỷ đồng, gần 150.000 USD và 21.500 cổ phần.

Theo Báo đầu tư

16 triệu USD bảo vệ an ninh cho Lễ trao giải Nobel Hòa bình 2009

Ước tính, số tiền mà chính phủ Na Uy chi cho công tác bảo vệ an ninh đã lên tới con số 16 triệu USD, tức là gấp 10 lần so với số tiền thưởng mà ông Barack Obama sẽ được nhận trong Lễ trao giải.

Hơn 2.000 cảnh sát trong đó gồm cả lực lượng bắn tỉa và đơn vị chó nghiệp vụ đã được huy động để bảo vệ Lễ trao giải Nobel Hòa bình 2009 tại Oslo vào tối 10/12. Đây được coi là chiến dịch an ninh lớn nhất trong lịch sử trao giải Nobel Hòa bình của Na Uy.


An ninh được thắt chặt trước, trong Lễ trao giải Nobel Hòa bình 2009.

Năm nay, người nhận giải thưởng là đương kim Tổng thống Mỹ Barack Obama nên việc bảo vệ an ninh càng được chú trọng. Các chốt kiểm soát an ninh ở vùng biên, trạm xe buýt, hải cảng và cửa ngõ vào thủ đô Oslo đều được trang bị thêm camera quan sát.

Chưa hết, cảnh sát Na Uy còn ra lệnh kiểm tra tất cả du khách tới Na Uy trong tháng 12 và cử người theo dõi những đối tượng khả nghi.

Thụy Điển và Đan Mạch cũng đã điều một số đội cảnh sát cùng nhiều phương tiện bảo vệ an ninh sang trợ giúp Na Uy như xe bọc thép, máy bay trực thăng.

Ước tính, số tiền mà chính phủ Na Uy chi cho công tác bảo vệ an ninh đã lên tới con số 16 triệu USD, tức là gấp 10 lần so với số tiền thưởng mà ông Barack Obama sẽ được nhận trong Lễ trao giải.

Tin từ hãng AP cho hay, sau khi dự lễ trao giải Nobel Hòa bình 2009, Tổng thống Mỹ sẽ tham dự Hội nghị về biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc tại Copenhagen (Đan Mạch)


Phan Hiển

Bài đăng phổ biến