Chủ Nhật, 18 tháng 11, 2012

Mức phạt các lỗi vi phạm xe máy thường gặp theo Nghị định 71/2012/NĐ-CP

vi pham xe may     Các bảng nêu bên dưới là tổng hợp các mức phạt vi phạm giao thông đối với một số lỗi phổ biến thường gặp trong thực tế áp dụng cho xe mô tô (ví dụ: lỗi vượt đèn đỏ, không đội mũ bảo hiểm, đi ngược chiều, chở ba, rẽ không xi nhan, đi xe đi trên hè phố; để xe trên lòng đường, hè phố…) quy định tại Nghị định 71/2012/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 34/2010/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ (có hiệu lực từ ngày 10/11/2012).
Lưu ý: Một số lỗi nếu vi phạm ở khu vực nội thành của đô thị loại đặc biệt thì không áp dụng mức phạt chung mà áp dụng mức phạt riêng, cao hơn bình thường.
* Mức phạt các lỗi liên quan đến giấy tờ xe, độ tuổi điều khiển xe
* Mức phạt các lỗi liên quan phổ biến khác
STT
Lỗi vi phạm
Mức phạt
(VNĐ)
Mức phạt khu vực nội thành của đô thị loại đặc biệt
1
Không chấp hành hiệu lệnh, chỉ dẫn của biển báo hiệu, vạch kẻ đường
60.000 - 80.000
100.000 - 200.000
2
Không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông (vượt đèn đỏ, tiến vào ngã tư khi đang có đèn đỏ hoặc đèn vàng)
200.000 - 400.000
300.000 - 500.000
3
Đi ngược chiều của đường một chiều trừ trường hợp xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ khẩn cấp
200.000 - 400.000
Áp dụng chung
4
Đi vào đường cấm, khu vực cấm trừ trường hợp xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ khẩn cấp
200.000 - 400.000
Áp dụng chung
5
Không đi bên phải theo chiều đi của mình; đi không đúng phần đường, làn đường quy định
200.000 - 400.000
400.000-800.000;giữ GPLX 30 ngày
6
Người điều khiển, người ngồi trên xe không đội mũ bảo hiểm hoặc đội mũ bảo hiểm không cài quai đúng quy cách khi tham gia giao thông
100.000 - 200.000
Áp dụng chung
7
Chở người ngồi trên xe không đội mũ bảo hiểm hoặc đội mũ bảo hiểm không cài quai đúng quy cách, trừ trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu, trẻ em dưới 06 tuổi, áp giải người vi phạm pháp luật
100.000 - 200.000
Áp dụng chung
8
Chở theo 2 người trên xe, trừ trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu, trẻ em dưới 14 tuổi, áp giải người vi phạm pháp luật
100.000 - 200.000
Áp dụng chung
9
Chở theo từ 3 người trở lên trên xe
200.000 - 400.000; Tước GPLX 30 ngày
Áp dụng chung
10
Điều khiển xe đi trên hè phố
200.000 - 400.000
400.000-800.000;giữ GPLX 30 ngày
11
Dừng, đỗ xe ở lòng đường đô thị gây cản trở giao thông; đỗ, để xe ở lòng đường đô thị, hè phố trái quy định pháp luật
100.000 - 200.000
300.000 - 500.000
12
Không sử dụng đèn chiếu sáng về ban đêm hoặc khi sương mù, thời tiết xấu hạn chế tầm nhìn
80.000 - 100.000
Áp dụng chung
13
Chuyển hướng không giảm tốc độ hoặc không có tín hiệu báo hướng rẽ
200.000 - 400.000
Áp dụng chung
* Mức phạt các lỗi quá tốc độ, đua xe trái phép, lạng lách đánh võng
STT
Lỗi vi phạm
Mức phạt (VNĐ)
1
Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 05 km/h đến dưới 10 km/h
100.000 - 200.000
2
Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 10 km/h đến 20 km/h
500.000 - 1 triệu
3
Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định trên 20 km/h
2 - 3 triệu
4
Không chú ý quan sát, điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định gây TNGT
2 - 3 triệu
5
Điều khiển xe chạy dàn hàng ngang từ 3 xe trở lên
80.000 - 100.000
(100.000 - 200.000 nếu là đô thị ĐB)
6
Điều khiển xe thành đoàn gây cản trở giao thông
200.000 - 400.000
7
Điều khiển xe lạng lách, đánh võng trên đường bộ trong, ngoài đô thị
5 - 7 triệu
8
Điều khiển xe thành nhóm từ 2 xe trở lên chạy quá tốc độ quy định
5 - 7 triệu
* Mức phạt đối với các lỗi đi sai làn, chuyển hướng, vượt, nhường đường không đúng quy định
STT
Lỗi vi phạm
Mức phạt
(VNĐ)
Khu vực nội thành đô thị đặc biệt
1
Không có báo hiệu xin vượt trước khi vượt
60.000 - 80.000
Áp dụng chung
2
Không giữ khoảng cách an toàn để va chạm với xe trước
60.000 - 80.000
Áp dụng chung
3
Không giữ khoảng cách theo quy định của biển “cự ly tối thiểu giữa hai xe”
60.000 - 80.000
Áp dụng chung
4
Chuyển hướng không nhường quyền đi trước cho người đi bộ, xe lăn người khuyết tật qua đường tại nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ; xe thô sơ đang đi trên phần đường dành cho xe thô sơ
60.000 - 80.000
Áp dụng chung
5
Chuyển hướng không nhường đường các xe đi ngược chiều; người đi bộ, xe lăn người khuyết tật đang qua đường tại nơi không có vạch kẻ đường cho người đi bộ
60.000 - 80.000
Áp dụng chung
6
Dùng đèn chiếu xa khi tránh nhau
40.000 - 60.000
Áp dụng chung
7
Chuyển làn đường không đúng nơi được phép
80.000 - 100.000
100.000 - 200.000
8
Chuyển làn đường không có tín hiệu báo trước
80.000 - 100.000
100.000 - 200.000


9
Không nhường đường cho xe xin vượt khi có đủ điều kiện an toàn
80.000 - 100.000
Áp dụng chung
10
Không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên, đường chính từ bất kỳ hướng nào tới tại nơi đường giao nhau
80.000 - 100.000
Áp dụng chung
11
Tránh xe không đúng quy định; không nhường đường cho xe đi ngược chiều theo quy định tại nơi đường hẹp, đường dốc, nơi có chướng ngại vật
80.000 - 100.000
Áp dụng chung
12
Quay đầu xe tại nơi cấm quay đầu xe
80.000 - 100.000
Áp dụng chung
13
Không giảm tốc độ hoặc không nhường đường khi điều khiển xe chạy từ trong ngõ, đường nhánh ra đường chính
100.000 - 200.000
Áp dụng chung
14
Chuyển hướng không giảm tốc độ hoặc không có tín hiệu báo hướng rẽ
200.000 - 400.000
Áp dụng chung
15
Không nhường đường hoặc gây cản trở xe ưu tiên
200.000 - 400.000; giữ GPLX 30 ngày
300.000 - 500.000; giữ GPLX 30 ngày
16
Vượt bên phải trong các trường hợp không được phép
200.000 - 400.000
Áp dụng chung
17
Vượt xe hoặc chuyển làn đường trái quy định gây tai nạn giao thông
2 - 3 triệu; giữ GPLX 60 ngày
Áp dụng chung
18
Dừng xe, đỗ xe trên phần đường xe chạy ở đoạn đường ngoài đô thị nơi có lề đường;

100.000 - 200.000
300.000 - 500.000; giữ GPLX 30 ngày
* Mức phạt đối với các lỗi: lái xe uống rượu (say rượu), sử dụng ma túy (áp dụng chung toàn quốc)
STT
Lỗi vi phạm
Mức phạt (VNĐ)
1
Điều khiển xe mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở
500.000 - 1 triệu
2
Điều khiển xe mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở
2 - 3 triệu
3
Điều khiển xe trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy
2 - 3 triệu
4
Không chấp hành yêu cầu kiểm tra chất ma túy, nồng độ cồn của người kiểm soát giao thông hoặc người thi hành công vụ
2 - 3 triệu

Thứ Sáu, 16 tháng 11, 2012

Các mức phạt về lỗi liên quan đến giấy tờ xe theo NĐ 71/2012/NĐ-CP

muc phat xe may
       - Các mức xử phạt về các lỗi có liên quan đến giấy tờ xe (Đăng ký xe, giấy phép lái xe, bảo hiểm, kiểm định...) và độ tuổi của người điều khiển phương tiện được quy định tại Điều 19, Điều 20, Điều 24 và Điều 33 Nghị định 34/2010/NĐ-CP và NĐ 71/2012/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 34/2010/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ.
       - Các mức xử phạt này áp dụng chung trên toàn quốc, không có mức phạt riêng cho Hà Nội, TP Hồ Chí Minh.
Tham khảo văn bản:
Bảng tổng hợp các lỗi và mức phạt dành cho xe mô tô và ô tô
* Đối với xe mô tô: 
STT
Lỗi vi phạm
Mức phạt chính và bổ sung
1
Dưới 16 tuổi điều khiển xe mô tô (kể cả xe máy điện)
Phạt cảnh cáo
2
Từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi điều khiển xe mô tô từ 50cm3 trở lên
400.000đ - 600.000đ
3
Không mang theo Giấy phép lái xe (bằng lái)
80.000đ - 120.000đ
4
Điều khiển xe mô tô dưới 175cm3 không có GPLX, sử dụng GPLX không do cơ quan có thẩm quyền cấp hoặc bị tẩy xóa
800.000 - 1,2 triệu đồng; tịch thu GPLX không hợp lệ
5
Điều khiển xe mô tô từ 175cm3 trở lên không có GPLX, sử dụng GPLX không do cơ quan có thẩm quyền cấp hoặc bị tẩy xóa
4 - 6 triệu đồng; tịch thu GPLX không hợp lệ
6
Điều khiển xe mô tô từ 175cm3 trở lên có GPLX nhưng không phù hợp với loại xe đang điều khiển
4 - 6 triệu đồng
7
Không mang theo Giấy đăng ký xe
80.000đ - 120.000đ
8
Không có Giấy đăng ký xe
300.000đ - 500.000đ
9
Sử dụng Giấy đăng ký xe đã bị tẩy xóa; sử dụng Giấy đăng ký xe không đúng số khung, số máy của xe hoặc không do cơ quan có thẩm quyền cấp
300.000đ - 500.000đ; tịch thu Giấy đăng ký không hợp lệ
10
Không có hoặc không mang theo Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới còn hiệu lực
80.000đ - 120.000đ
11
Tẩy xóa, sửa chữa hoặc giả mạo hồ sơ đăng ký xe
500.000 - 1 triệu đồng
* Đối với xe ô tô:
STT
Lỗi vi phạm
Mức phạt chính và bổ sung
1
Dưới 16 tuổi điều khiển ô tô, máy kéo hoặc các loại xe tương tự
Phạt cảnh cáo
2
Từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi điều khiển ô tô, máy kéo hoặc các loại xe tương tự
1 - 3 triệu đồng
3
Không có Giấy đăng ký xe
2 - 3 triệu đồng; tước quyền sử dụng GPLX 30 ngày
4
Không mang theo Giấy đăng ký xe, GPLX, Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật (đăng kiểm)
200.000đ - 400.000đ
5
Không có Giấy chứng nhận hoặc tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường hoặc có nhưng đã hết hạn
2 - 3 triệu đồng; tước quyền sử dụng GPLX 30 ngày
6
Sử dụng Sổ chứng nhận kiểm định, Giấy chứng nhận, tem kiểm định ATKT và bảo vệ môi trường, Giấy đăng ký xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp hoặc sử dụng Giấy đăng ký xe không đúng số khung, số máy
4 - 6 triệu đồng; tịch thu Giấy chứng nhận, tem kiểm định, giấy đăng ký xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp; tước quyền sử dụng GPLX 30 ngày
7
Không có GPLX, hoặc GPLX không do cơ quan có thẩm quyền cấp, hoặc bị tẩy xóa
2 - 3 triệu đồng, tịch thu GPLX không hợp lệ
8
Có GPLX nhưng không phù hợp với xe đang điều khiển hoặc hết hạn từ 6 tháng trở lên
2 - 3 triệu đồng
9
Có GPLX nhưng đã hết hạn sử dụng dưới 6 tháng
400.000đ - 600.000đ
10
Không có hoặc không mang theo Giấy chứng nhận bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới còn hiệu lực
400.000đ - 600.000đ
11
Tẩy xóa hoặc sửa chữa Giấy đăng ký xe, hồ sơ đăng ký xe, Giấy chứng nhận hoặc tem kiểm định ATKT và bảo vệ môi trường hoặc các loại giấy tờ khác về phương tiện
2 - 4 triệu đồng
* Lưu ý: 
Đối với lỗi về giấy đăng ký, có hai lỗi với hai mức phạt rất khác nhau:
+ Không mang theo giấy đăng ký xe (do để quên ở nhà, mượn xe người khác…): mức phạt là 80.000 - 120.000 đồng với xe máy, 200.000 - 400.000 đồng với ô tô.
+ Không có giấy đăng ký xe (do xe chưa đăng ký, mất giấy tờ, xe không rõ nguồn gốc …): mức phạt là 300.000 - 500.000 đồng với xe máy, 2 - 3 triệu đồng + tước quyền sử dụng GPLX 30 ngày.

Thứ Hai, 12 tháng 11, 2012

Văn bản hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp mới nhất năm 2013

luat doanh nghiepQuy định chung:
Quy định về đăng ký, thành lập, giải thể, phá sản doanh nghiệp:
Quy định về ngành nghề kinh doanh có điều kiện:

    Chủ Nhật, 11 tháng 11, 2012

    UB ATGT Quốc gia kiến nghị chưa phạt người đi xe không chính chủ

    Tham khảo:
         Ngày 11/11, ông Nguyễn Hoàng Hiệp, Phó chủ tịch Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia cho VnExpress.net biết, sẽ tham mưu chưa phạt người đi xe chưa sang tên đổi chủ, bởi hiện có khoảng 40% xe không chính chủ.
    1. Ông nghĩ sao về việc xử phạt người đi xe không chính chủ mà Công an Hà Nội vừa thực hiện?
         Việc sang tên đổi chủ phương tiện là nguyên tắc thế giới áp dụng từ lâu. Bất cứ tài sản nào cũng phải thay tên đổi chủ, vì liên quan đến công tác quản lý nhà nước. Nếu người dân không làm việc này là vi phạm luật pháp và phải chịu xử lý hành chính. Có điều từ lâu các cơ quan quản lý quên việc xử phạt hành vi không thay tên đổi chủ nên người dân thấy không cần thiết phải sang tên.
         Do vậy, phương tiện không chính chủ là tràn lan, chưa có tài liệu nào chính thức thống kê được số xe không chính chủ, song theo điều tra xã hội học của Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia thì con số này không nhỏ, thậm chí lên tới khoảng 40%. Có những phương tiện đã qua hàng chục đời chủ mà không biết người chủ đầu tiên là ai, thậm chí chủ trước đã chết. Đây là lỗ hổng trong công tác quản lý.
    2. Vậy tại sao trước đây, cảnh sát giao thông không xử phạt người không sang tên chính chủ?
         Quá trình xác minh có chính chủ hay không rất khó, thậm chí chi phí đi xác minh còn cao hơn tiền phạt. Luật pháp không cấm chuyện mượn xe đi lại, song nếu phát hiện xe không đúng tên và để phạt được thì cảnh sát cũng phải chứng minh xe đó chưa sang tên đổi chủ. Vì thế, khi người dân chứng minh là xe mượn thì cảnh sát cũng phải xác minh là xe đó mượn hay là đã bán rồi. Nếu không xác minh mà dựa vào một giấy mượn xe thì không đúng. Quy trình này cũng rất phức tạp.
    3. Như ông nói, hiện có tới 40% xe không chính chủ và nguyên nhân một phần do cơ quan quản lý lơ là xử phạt. Vậy tại sao giờ lại đưa ra mức phạt tăng mạnh hơn cho hành vi này?
         Khi sửa đổi Nghị định 34 thành Nghị định 71, tất cả các mức xử phạt hành chính đều tăng. Đặc biệt có 2 nhóm tăng mạnh là nhóm các hành vi nguy hiểm như uống rượu bia, đua xe; và vi phạm lấn chiếm hành lang an toàn giao thông, sang tên đổi chủ... Hiện chúng ta không thể thực hiện các giải pháp như xử phạt bằng camera vì không biết chủ xe là ai. Song, về quản lý xã hội sau này, chắc chắn phải áp dụng vì không thể đưa quá nhiều cảnh sát giao thông ra đứng đường.
         Nghị định 71 đã được soạn thảo từ năm 2011, lấy ý kiến rất nhiều cơ quan chức năng, địa phương. Có thể mức phạt được đưa ra không thỏa mãn một số nơi song theo tôi đã đủ sức răn đe. Nhưng tôi thấy, lực lượng chức năng nên tập trung trước vào các hành vi nguy hiểm như chạy quá tốc độ, đua xe, uống rượu bia, còn các hành vi khác cũng phải xử phạt song có thể chưa tập trung.
    4. Vậy, theo ông, làm cách nào để khuyến khích người dân làm thủ tục sang tên, đổi chủ?
         Theo tôi, các ngành chức năng phải có nghiên cứu và hướng dẫn chi tiết về vấn đề này. Quy định hiện nay chỉ rõ, chủ xe phải có trách nhiệm khai báo, nhưng nếu người dân không thể xác minh chủ nhân trước đây là ai thì công an cũng phải đi xác minh xe đó không vi phạm pháp luật (như không phải xe ăn cắp) thì cho phép người dân được quyền sang tên đổi chủ.
         Các cơ quan chức năng cần nghiên cứu và đưa ra quy trình để người dân có thể nhanh nhất làm thủ tục thay tên đổi chủ phương tiện. Thứ hai, mức phí trước bạ cần giảm tới một mức hợp lý bởi mức hiện nay quá cao. Ví dụ, người ta mua một ôtô cũ giá 500 triệu và phải mất 60 triệu đồng (12%) chỉ để sang tên thì là bất hợp lý. Thực ra, người dân ai cũng muốn có phương tiện chính chủ, đặc biệt với tài sản lớn. Đối với nhà giàu thì ôtô là tài sản, nhà nghèo thì xe máy là tài sản, song do điều kiện kinh tế khác nhau người ta phải mua xe cũ, thì nhà nước nên có tính toán điều chỉnh mức phí.
         Nhà nước cần xác định mức phí trước bạ không phải là nguồn thu ngân sách, mà là để người dân chấp hành pháp luật, phục vụ công tác quản lý. Nhà nước cần quản lý xe chính chủ và người dân cũng muốn có xe chính chủ, hai phía này cần hài hòa với nhau. Tuy nhiên, về quản lý nhà nước cần tính toán việc thực thi phù hợp với hoàn cảnh của đại bộ phận người dân hiện nay.
    5. Về phía Ủy ban An toàn giao thông sẽ có đề xuất gì về vấn đề này?
         Nghị định 71 có hiệu lực từ ngày 10/11, nhưng theo tôi các hành vi như đua xe, vượt tốc độ... phải phạt ngay, còn phương tiện không chính chủ chưa nên phạt mà cần có thời gian để người dân chuẩn bị. Trước mắt cần tuyên truyền và thời gian phạt sẽ phụ thuộc vào cơ quan quản lý thực hiện quy trình chứng nhận sở hữu xe cho dân.
         Ủy ban ATGT Quốc gia cũng sẽ tham mưu cơ quan chức năng xem xét tạm thời chưa phạt người đi xe không chính chủ, tính toán lại thủ tục hành chính và xem xét lại mức phí.
    6. Tuy nhiên, một số người dân sẽ lo ngại bị xử phạt nếu họ đi xe không chính chủ trong những ngày này, ông có ý kiến gì?
         Chắc chắn trước mắt trong vài ngày tới, cảnh sát giao thông ở các địa phương sẽ chưa bắt đầu xử phạt mà chỉ tuyên truyền nên dân chưa quá lo ngại bị phạt. Tuy nhiên, người nào chưa chuyển tên mà xác định được chủ xe cũ thì nên đi làm thủ tục chuyển nhượng. Thực tế, các trường hợp gây tai nạn nghiêm trọng mới xem xét chủ sở hữu, chứ đi trên đường thì cảnh sát giao thông hầu như không hỏi.
         Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia sẽ làm việc với cảnh sát giao thông và yêu cầu trước mắt làm công tác tuyên truyền cho dân biết. Nhưng chúng tôi cũng kêu gọi người dân không vi phạm Luật giao thông đường bộ vì mức xử phạt rất cao có thể ảnh hưởng tới kinh tế của gia đình.
    7. Vậy, vấn đề xe không chính chủ ở gia đình ông ra sao?
         Vợ chồng tôi đều đi xe chính chủ, còn gia đình lớn thì cũng có người đi xe không đúng sở hữu, đó là người em mua xe máy cũ chưa chuyển nhượng. Tôi sẽ khuyên người em đó đi trên đường cần cẩn thận để không bị cảnh sát giao thông hỏi về chuyện chính chủ và cũng nên đi chuyển đổi sở hữu sớm.
    (Theo Vnexpress)

    Thứ Bảy, 10 tháng 11, 2012

    Ý kiến Bộ CA về việc phạt lỗi xe không chính chủ

    xe khong chinh chu
    Tham khảo:
        Nghị Định 71/2012/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 34/2010/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ quy định đối với hành vi "Không chuyển quyền sở hữu phương tiện theo quy định" (hay theo dân gian gọi là hành vi không sang tên đổi chủ hoặc đi xe không chính chủ) thì phạt tiền từ 6 triệu đồng đến 10 triệu đồng đối với chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự ô tô; phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1,2 triệu đồng đối với chủ xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự mô tô. Như vậy nếu không có tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ thì sẽ phạt 8 triệu đồng (với ô tô), 1 triệu đồng (với xe mô tô). Quy định này tăng mức phạt nhiều lần so với quy định cũ (VD: lỗi này đối với xe mô tô thì chỉ bị phạt từ 100.000 đến 200.000 đồng.
         Ông Nguyễn Văn Tuyên, Cục trưởng Cục Cảnh sát Giao thông Đường bộ - Đường sắt (C67 Bộ Công an) có ý kiến như sau:
         - Mục tiêu của Nghị định 71/2012/NĐ-CP chủ yếu hướng đến các trường hợp mua bán xe lòng vòng, trốn thuế mà vẫn lưu hành. Nghị định này buộc những người mua bán xe phải làm thủ tục đăng ký sang tên chính chủ, có nộp thuế cho nhà nước. Nguyên tắc khi mua bán xe là phải nộp thuế rồi mới đi đăng ký. Tuy nhiên, một số người lại lợi dụng việc đó để không đóng thuế. Hiện nay rất nhiều xe ô tô trôi nổi theo dạng đó, trốn rất nhiều tiền thuế của nhà nước. Trong trường hợp mua bán xe nhiều lần qua nhiều đời chủ khác nhau mà chưa sang tên đổi chủ thì sẽ không được lưu hành, nếu lưu hành là bị phạt. Người ta chỉ phạt trong trường hợp phát hiện rõ ràng là mua bán xe mà không sang tên đổi chủ sau một thời gian không đóng thuế.
         - Mục đích của việc tăng mức xử phạt là để bắt buộc người dân thực hiện đúng quy định sang tên đổi chủ theo quy định pháp luật. Trước đây đã có quy định xử phạt đối với hành vi này nhưng chưa đem lại hiệu quả, do mức xử phạt nhẹ nên nhiều người sẵn sàng chấp nhận bỏ tiền nộp phạt chứ không chịu sang tên đổi chủ, gây ra không ít khó khăn cho cơ quan quản lý. Ví dụ như một số trường hợp lái xe gây tai nạn bỏ trốn, cơ quan chức năng không xác định được nguồn gốc chủ xe. Vì vậy, với quy định tăng mức xử phạt, sẽ góp phần tăng ý thức của người dân trong việc thực hiện chuyển quyền sở hữu khi mua bán phương tiện.
         - Quy định chuyển quyền sở hữu cũng đã có hướng dẫn. Đối với những trường hợp mua xe qua nhiều đời chủ xe thì người mua xe phải chịu trách nhiệm một phần. Nếu một chiếc xe được mua bán qua tay nhiều chủ, phải chứng minh được tính liên tục của giấy bán chẳng hạn ông A bán cho bà B, bà B bán cho ông C...Người sở hữu xe bán xe thì phải thông báo cho CSGT biết. Sau 30 ngày kể từ ngay mua bán mà không sang tên thì là vi phạm luật.
         - Theo Nghị định 71/2012/NĐ-CP, người điều khiển mà mượn xe thì sẽ không bị phạt về lỗi đi xe không chính chủ. Đối với những người sử dụng xe của cơ quan, nếu trình bày được mình là nhân viên của cơ quan thì cũng không bị phạt vì đi xe không chính chủ. Hiện chưa văn bản hướng dẫn về các giấy tờ người mượn xe cần phải có để chứng minh là xe đi mượn. Trong trường hợp bị CSGT dừng xe kiểm tra thì người điều khiển phải trình bày, chứng minh việc này.
          - Người điều khiển xe đã bị xử phạt một lần về hành vi "không chuyển quyền sở hữu phương tiện" mà vẫn tiếp tục sử dụng phương tiện không sang tên đổi chủ, sẽ tiếp tục bị xử phạt. Một người có thể bị xử phạt nhiều lần về lỗi vi phạm này.
         - Bộ Công an sẽ có thông tư hướng dẫn về những trường hợp đối với xe cho hoặc tặng, vẫn phải sang tên đổi chủ.         
    * Các giấy tờ cần phải chứng minh (Tham khảo) 
          Người đi xe không đăng ký tên mình ngoài việc phải mang đủ các loại giấy tờ xe theo quy định (giấy đăng ký xe, chứng nhận bảo hiểm xe) phải mang theo một trong số các loại giấy tờ sau:
         + Đối với xe mượn: Giấy cho mượn xe (hoặc hợp đồng cho mượn xe) có đủ các thông tin về chủ sở hữu xe và người mượn xe (tên, địa chỉ, số CMND), xe mượn (biển số, loại xe, số giấy đăng ký), việc cho mượn (ngày mượn, thời hạn mượn), và có chữ ký 2 bên.
         + Đối với xe đi chung trong gia đình:  xuất trình các loại giấy tờ chứng minh quan hệ của mình với chủ đứng tên đăng ký xe (như bản photo giấy khai sinh, hộ khẩu hoặc bản photo giấy CMND...có trùng địa chỉ đăng ký thường trú với mình).
         + Trường hợp không xuất trình được các loại giấy tờ trên thì phải gọi được người chủ đăng ký xe ra để chứng minh khi bị kiểm tra.

    Một vài ý kiến cá nhân: (sưu tầm trên FB)
    Ý kiến 1: 
    " HAI MẶT CỦA VẤN ĐỀ TRONG NGHỊ ĐỊNH 71 SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH 34/2010/NĐ-CP NGÀY 02/4/2010 QUY ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
    Chắc hẳn các bạn cũng nghe đâu đó từ gia đình, bạn bè, báo chí, đài, TV, xôn xao về vấn đề thực hiện NĐ 71/CP ( 10/11/2012) này!
    Ngay sau khi NĐ 71 có hiệu lực và đi vào thực hiện các cơ quan NN đã nhận lại được rất rất nhiều những ý kiến, bình luận tích cực và đa phần là tiêu cực. Những bài hát, câu thơ nói về sự bất bình của của người dân và thể hiện thái độ chỉ trích đối với Chính Phủ mà trực tiếp hơn là Bộ GTVT – Btr: Đinh La Thăng!
    Vậy, Chính Phủ xây dựng NĐ này đúng hay sai? Quốc Hội thông qua NĐ đúng hay sai? Bộ GTVT áp dụng NĐ đúng hay sai? Và tất cả những vấn đề đằng sau nó là gì ???
    Trong tất cả những nội dung mà NĐ 71 quy định, tôi xin tổng hợp và đưa ra một số ý kiến của mình riêng về 1 quy đinh đang “hot” nhất!
    “ 8. Sửa đổi, bổ sung Điều 33 như sau:
    Điều 33. Xử phạt chủ phương tiện vi phạm quy định liên quan đến giao thông đường bộ
    e) Không chuyển quyền sở hữu phương tiện theo quy định”
    - Thứ 1. Các bạn hiểu như thế nào về nội dung của điểm e?
    1. Xử phạt hành vi không chính chủ: không phải là chủ sở hữu của xe hay nói cách khác không có giấy tờ chứng đăng ký sở hữu xe.
    Như vậy trường hợp sd xe của gia đình, mược xe của bạn bè, thuê xe,.. đều là vi phạm điểm e và sẽ bị phạt từ 800.000- 1200.000 đ.
    2. Xử phạt hành vi không chuyển nhượng theo quy định đối với phương tiện (mô tô và ô tô) mua bán cho tặng quyền sở hữu phương tiện: khi chủ sở hữu mua bán, tặng cho, để lại di sản cho người khác thì cần phải chuyển nhượng giấy tờ xe; người nhận xe phải có giấy chuyển nhượng xe có đăng ký, công chứng chứng thực tại CQ nhà nước có thẩm quyền.
    Trường hợp sd xe của người khác, bạn chỉ cần chứng minh mình đã mượn xe của chủ sở hữu – đã đăng ký chính chủ chiếc xe bạn đang đi bằng cách: trình giấy tờ của người cho mượn, CMTND, số đt,… thì bạn không phải là đối tượng của điểm e này!
    Trong 2 quan điểm trên, đa số người dân đều hiểu điểm e theo cách 1- Sai!
    - Thứ 2. Người dân chưa hiểu luật nhưng còn cơ quan thực thi luật – Bộ GTVT: cảnh sát giao thông?
    Trong trường hợp người dân chưa biết nhưng khi gặp trường hợp này CSGT có giải thích điểm e theo đúng nd hiểu thứ 2? Để tình trạng nhiều người dân bị phạt thẳng tay 1 khoản tiền lớn cho CSGT vì sd xe không phải của mình.
    1. CSGT nhiều người chưa được trang bị kỹ nd của NĐ, để tình trạng hiểu sai theo tôi điều này hiếm khi xảy ra vì:
    Hiện Tổng cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hộ đã có Công điện 141 gửi công an các địa phương nói rõ, trong thời gian mới triển khai quy định về xử phạt xe không chính chủ, nếu người điều lái xe khai là xe mượn thì tạm thời không xử phạt. Nếu người đó chứng minh được là mình đã mượn xe của người chính chủ chiếc xe thì không bị phạt, và ngược lại.
    2. CSGT đã lợi dụng kẽ hở PL: NĐ mới được thông qua và có hiệu lực PL , người dân chưa biết, hiểu rõ nội dung của điểm e. Nên CSGT đã lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình để chủ động cầm bánh lái, lái hướng nội dung pl đúng (2) sang cách hiểu sai (1) bằng cách khôn khéo: không giải thích luật mà chỉ nêu luật
    => “ hix chú không phải là chủ sở hữu phương tiện chú đang lái thì theo NĐ chú sẽ bị phạt” .
    => Mà không giải thích: “ nếu anh đang sử dụng xe người khác, thì anh có thể trình giấy tờ…chứng minh anh đang sd xe của chủ sở hữu xe đã đằng ký).
    - Thứ 3: Lý do vì sao lại có NĐ 71- mức phạt rất cao so với NĐ 34? Và vì sao lại qđ điểm e như vậy?
    Nd này các bạn có thể tìm kiếm trên goole có những phân tích số liệu cụ thể. (hợp lý)
    Mục đính cuối: người dân tuân thủ đúng pl – bảo vệ chính quyền lợi của mình.
    NHƯ VẬY, THEO TÔI VIỆC ĐƯA RA NĐ 71/CP KHÔNG HỀ SAI -> mặt phải
    TUY NHIÊN NÓ CÓ ĐỂ LẠI NHIỀU BẤT CẬP TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN -> mặt trái.
    ( b/c: hầu như nội dung pl VN không hề sai, nhưng quá trình thực hiện thì lại có nhiều lỗ hổng).
    - Thứ 1: Phía cơ quan nhà nước.
    1. Nghị định được thông qua và có hiệu lực áp dụng quá vội vàng, chưa có công tác truyền thông tuyên truyền pl và giải thích luật qua các phương tiện truyền thông.
    2. Nghị định không quy định rõ ràng , chồng chéo với các vbqp pl khác; CP chưa kịp thời đưa ra những văn bản QPPL hướng dẫn thi hành cùng với NĐ để kịp thời giải thích luật- NĐ.
    3. Chưa có cơ chế giám sát việc thực thi luật đối với CSGT: để 1 số CS không làm đúng chức trách, sách nhiễu dân.
    4. Chưa làm đúng trách nhiệm trong quản lý: đăng ký chính chủ phương tiện gia thông từ trước.
    - Thứ 2: Phía người dân.
    1. “ nước tới chân mới nhảy”
    Chính sự thụ động của người dân trong vấn đề tìm hiểu pl đã phần nào tạo cơ hội cho chính 1 … lợi dụng thu lời riêng, và khiến mình rơi vào cảnh “ lậy ông tôi ở bụi này”.
    Người dân, đa phần chỉ khi nào sự việc xảy ra rồi, quyền lợi sát xườn của mình bị động chạm tới lúc đó họ chỉ an phận: xin xin , thôi thì “đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn” or cố cãi lại nhưng trong khi không hiểu luật không lách được luật và bị phạt thêm “gậy ông lại đập lưng ông”
    Nếu như dân chủ động tìm hiểu pl chắc chắn đâu còn trường hợp: con sử dụng xe của bố mẹ, bạn trai sử dụng xe của bạn gái có đăng ký chính chủ,… bị phạt oan 800.000 -1.200.000 triệu vì không biết mình được chứng minh và cách chứng minh!
    2. Sự không tuân theo pl, sự thụ động trong tìm hiểu pl lại 1 lần nữa khiến chính dân làm khó dân, dân chỉ nhìn cái dễ và đơn giản trước mắt mà bỏ đi cái quyền lợi lâu dài của mình!
    Tôi xin trích dẫn 1 vài vd trên báo chí như sau:
    - Anh Trương Văn Tính, ở Quảng An, Tây Hồ (Hà Nội) cho biết: Nhà mua chiếc xe máy từ năm 2003, đến nay biết sẽ thực hiện nghiêm việc sang tên đổi chủ xe. Anh nhờ dịch vụ tìm được chủ xe trong giấy đăng ký xe máy. Tưởng mọi việc đơn giản, ai ngờ nhận được câu trả lời: "Tôi không bán cho anh, muốn tôi viết giấy mua bán trực tiếp, chi 10 triệu đồng, không thì thôi".
    - Chị Lê Anh Vân, ở khu tập thể X40, Khương Trung, Thanh Xuân (Hà Nội) cho biết, chị mới mua cho cậu con trai chiếc xe máy hồi đầu năm để đi học đại học. Nhưng vì để quản lý tài sản, đã đăng ký mang tên mình. Mấy hôm nay, con không dám mang xe đi học, vì sợ bị phạt. Chẳng lẽ bây giờ lại phô-tô công chứng cả sổ hộ khẩu, chứng minh thư nhân dân cho con cầm đi?
    - Nguyễn Văn Lợi, làm nghề lái xe ôm, mua chiếc xe của người quen, nhưng chủ cũ đã vào TP Hồ Chí Minh sinh sống, không biết bây giờ làm sao đây?
    Để giải quyết vấn đề này, ngày 1 ngày 2 CP sẽ ra QĐ tạm dừng việc áp dụng NĐ 71 trong 1 thời gian ( 6th or 1 năm) để: làm công tác tuyên truyền pl dân, để những trường hợp như anh Tính, chị Vân,… có tg làm lại giấy tờ sử dụng xe.
    Như các bạn có thể thấy, 3 vd trên chỉ là 3 trong số rất nhiều trường hợp người dân tự làm mình rơi vào khó khăn . Và việc lấy lại được giấy tờ đký chính chủ sẽ không phải là 1 sớm 1 chiều!
    Vậy nên trước khi đánh giá 1 vấn đề tôi nghĩ chúng ta cần phải xem xét và đánh giá nó dưới nhiều góc độ và đặc biệt góc mà mỗi chúng ta ngỡ rằng nó an toàn nhất: chính bản thân mình!"
    Ý kiến 2:
    "...là một người học luật + là 1 công dân bình thường của Việt Nam, mình cũng muốn cmt về chủ đề "phạt xe không sang tên đổi chủ" so hot những ngày này, bài viết mình mà mình đọc được dưới đây có thể nói đã chỉ ra và phân tích rất rõ bản chất pháp lý của các văn bản pháp luật quy định về vấn đề này. Tuy nhiên bài viết còn hơi rườm rà. Mình xin chốt lại vài cmt chính như sau:
         1. Vấn đề "phạt xe không sang tên đổi chủ" đã được quy định được gần 3 năm ngay trong Nghị định số 34/2010/NĐ-CP, Nghị định số 71/2012/NĐ-CP chỉ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định sô 34/2010/NĐ-CP trong đó có tăng mức tiền phạt đối với việc xe không sang tên đổi chủ mà thôi. (Tuy nhiên ở đây ta thấy rõ hạn chế trong việc tuyên truyền phổ biến pháp luật cho người dân của nhà nước).
         2. Tầm quan trọng và ý nghĩa của việc phạt xe không sang tên đổi chủ:
    a) Khắc phục tình trạng thất thu thuế của Nhà nước (nguồn thuế thu được từ phí chuyển quyền sở hữu xe là cần thiết và hợp lý, là nguồn thu chính đáng chứ ko thể nói là kiếm chác);
    b) Có tác dụng rất tích cực và rất mạnh trong việc giảm thiểu và tiến tới đẩy lùi nạn trộm cắp xe, lừa đảo hoặc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt xe mang đi cầm đồ hay dùng các hình thức, thủ đoạn khác nhằm hợp thức hóa tài sản (xe) mà người đó có được 1 cách bất hợp pháp. (tác dụng này mang tính vô hình, ko nhìn thấy rõ được ngay, chỉ sau khoảng 5-10 năm với các con số thống kê của các cơ quan thống kê hình sự về tội trộm cắp tài sản...mới có thể thấy được tác dụng lớn lao của nó. Cũng chính vì tính vô hình và lâu dài như vậy mà người dân ít để tâm đến cái ý nghĩa này).
    c) Việc sang tên đổi chủ đối với ô tô, xe máy thực chất có ý nghĩa rất quan trọng đối với mỗi cá nhân sở hữu xe đó:
    - Chính thức thuộc sở hữu của mình (đối với người mua xe, được cho tặng, thừa kế xe) cả về mặt thực tế lẫn mặt pháp lý.
    - Tránh được những rắc rối nảy say khó lường trước trong cuộc sống do việc ko sang tên đổi chủ gây ra:
    + Rắc rối trong các vụ án, vụ tai nạn liên quan đến xe: chủ cũ do ko làm thủ tục sang tên cho chủ mới nên có thể gặp rắc rối thậm chí bị oan trong 1 số trường hợp vụ việc do chủ mới gây ra bỏ chạy mà phương tiện vi phạm thậm chí phương tiện phạm tội để lại hiện trường là chiếc xe đó - công an tạm thời chỉ tìm ra chủ phương tiện dựa vào đăng ký biển kiểm soát. Tất nhiên sự thật vẫn phải được các cơ quan điều tra tìm ra đúng, thế nhưng quãng time đó rất rắc rối và phiền phức cho người bị oan.
    + Những rủi ro trong việc bạn được cha, mẹ, người thân, bạn bè cho tặng, thừa kế một chiếc xe mà không làm thủ tục chuyển chủ sở hữu: người đem cho, tặng, cho thừa kế nếu tham gia kinh doanh với chế độ chịu trách nhiệm vô hạn, họ có thể gặp rủi ro và những tài sản thuộc sở hữu của họ sẽ phải bị đem ra thanh toán các khoản nợ, khi đó chiếc xe đó mặc dù đã thuộc sở hữu của người được cho tặng, được thừa kế nhưng chỉ về mặt thực tế còn về mặt pháp lý thì chưa, vì vậy khó đảm bảo rằng nó ko bị đem ra thanh toán nợ cho các chủ nợ.
         3. Quy định xử phạt xe không sang tên đổi chủ chỉ có đối tượng áp dụng là các trường hợp mua bán, cho tặng, thừa kế mà không chuyển chủ sở hữu ; ko áp dụng đối với các trường hợp đi xe do mượn bạn bè, đi xe của bố mẹ, của người thân...Tuy nhiên sẽ có thêm 1 số thủ tục phát sinh trong việc chứng minh nó đúng là xe đi mượn chứ ko phải trộm cắp thôi. (Phần lớn mọi người hiện tại dường như đang nhìn vào cái khúc mắc và khó khăn này để phán xét).
         4. Như đã nhấn mạnh ở đầu, quy định xử phạt xe không sang tên đổi chủ đã có cách đây 2 năm, cho nên không thể nói quy định này là đột ngột, không thông báo trước 1 khoảng time cho người dân kịp thời đi chuyển tên chủ sở hữu, cái đột ngột ở đây chỉ là tăng mức tiền phạt mà thôi."

    Thứ Sáu, 9 tháng 11, 2012

    Toàn văn Thông tư 05/2012/TT-BNV sửa đổi TT 13/2010/TT-BNV hướng dẫn tuyển dụng, nâng ngạch công chức NĐ 24/2010/NĐ-CP về tuyển, sử dụng, quản lý công chức

    BỘ NỘI VỤ
    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
    Số: 05/2012/TT-BNV
    Hà Nội, ngày 24 tháng 10 năm 2012
    THÔNG TƯ
    SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA THÔNG TƯ SỐ 13/2010/TT-BNV NGÀY 30 THÁNG 12 NĂM 2010 CỦA BỘ NỘI VỤ QUY ĐỊNH CHI TIẾT MỘT SỐ ĐIỀU VỀ TUYỂN DỤNG VÀ NÂNG NGẠCH CÔNG CHỨC CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 24/2010/NĐ-CP NGÀY 15 THÁNG 3 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH VỀ TUYỂN DỤNG, SỬ DỤNG VÀ QUẢN LÝ CÔNG CHỨC
    Căn cứ Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức và Nghị định số 93/2010/NĐ-CP ngày 31 tháng 8 năm 2010 của Chính phủ sửa đổi một số điều của Nghị định số 24/2010/NĐ-CP;
    Căn cứ Nghị định số 61/2012/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ;
    Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Công chức - Viên chức, Bộ Nội vụ;
    Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 13/2010/TT-BNV ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Bộ Nội vụ quy định chi tiết một số điều về tuyển dụng và nâng ngạch công chức của Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức (sau đây viết tắt là Thông tư số 13/2010/TT-BNV),
    Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 13/2010/TT-BNV
    1. Bổ sung Khoản 3 Điều 1 như sau:
    “3. Khi quy định và thông báo các điều kiện đăng ký dự tuyển công chức, cơ quan quản lý công chức không phân biệt loại hình đào tạo và văn bằng, chứng chỉ (chính quy, tại chức, liên thông, chuyên tu, từ xa, theo niên hạn hoặc theo tín chỉ), không phân biệt trường công lập và trường ngoài công lập”.
    2. Sửa đổi Điểm b Khoản 2 Điều 4 như sau:
    “b) Cơ quan quản lý công chức quy định tại Khoản 2 Điều 2 Nghị định số 24/2010/NĐ-CP:
    - Căn cứ vào báo cáo kết quả thi tuyển hoặc xét tuyển của người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chức, phê duyệt kết quả tuyển dụng công chức thuộc phạm vi quản lý;
    - Quyết định việc tuyển dụng vào công chức không qua thi tuyển đối với các trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng công chức theo quy định của Điều 10 Thông tư số 13/2010/TT-BNV”.
    3. Bổ sung Điểm đ Khoản 2 Điều 10 như sau:
    “đ) Đối với trường hợp là viên chức đang làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội, nếu có đủ điều kiện, tiêu chuẩn để xem xét tuyển dụng vào công chức không qua thi tuyển theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 10 Thông tư số 13/2010/TT-BNV và cơ quan, tổ chức, đơn vị còn chỉ tiêu biên chế, người đứng đầu cơ quan quản lý công chức xem xét, quyết định tuyển dụng vào công chức không qua thi tuyển và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình. Sau đó có văn bản báo cáo Bộ Nội vụ hoặc Ban Tổ chức Trung ương để phục vụ công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra theo thẩm quyền”.
    Điều 2. Hiệu lực thi hành
    Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 12 năm 2012.
    Điều 3. Trách nhiệm tổ chức thực hiện
    Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này./.
    KT. BỘ TRƯỞNG
    THỨ TRƯỞNG
    Trần Anh Tuấn

    Bài đăng phổ biến