Thứ Sáu, 1 tháng 2, 2013

Thành công trong một thế giới liên lập

Ông Jack Canfield
Làm thế nào để thành công? Đó là bí quyết mà ai cũng muốn biết. Jack Canfield- tác giả của bộ sách Chicken Soup for the Soul đã được in trên 100 triệu bản, dịch sang 39 ngôn ngữ - chia sẻ những kinh nghiệm của ông qua cuộc phỏng vấn vào tuần trước khi ông đến TP.HCM để tham dự hội thảo do Trung tâm ITD và trường Đại học Kinh tế TP.HCM tổ chức.

+ Ông định nghĩa như thế nào là thành công?

- Thành công là khi chúng ta đạt đến những mục tiêu định ra, là khả năng tạo ra những kết quả mà mình mong muốn.

Nhiều người ở châu Âu, và có thể ngay cả ở VN, khi nói đến thành công thường nghĩ đến sự thành công về mặt tài chính. Tôi thì không nghĩ như vậy. Một người thành công là thành công cả trong công việc, hạnh phúc trong cuộc sống và phải có sức khỏe.

+ Quỹ thời gian của con người là có giới hạn, và trong cuộc sống có không ít người đã phải đánh đổi, thành công trong sự nghiệp nhưng lại không thành công trong cuộc sống gia đình. Ông nghĩ sao về điều này?

- Nhiều người hay hỏi tôi là họ nên dành thời gian cho công ty hay là cho gia đình và các mối quan hệ cá nhân. Tôi cho rằng điều quan trọng là mỗi người phải biết mình muốn gì và phải tự biết cách tổ chức cuộc sống để làm được những điều mình muốn. Tại sao bạn không tìm một cộng sự giỏi và tin cậy để họ gánh bớt công việc. Dĩ nhiên khi làm theo lời khuyên này có thể bạn sẽ phải giảm một khoản thu nhập đáng kể, nhưng đó là một khoản chi đúng.

+ Hiện thời ông làm giám đốc của Chicken Soup for the Soul Enterprises, chủ tịch của Canfield Training Institute, vậy theo ông, đâu là những nguyên tắc giúp cho một doanh nhân thành công?

- Đó là phải biết xác định rõ mục đích, tự tin, dám quyết định những điều mình mong muốn, làm việc với những người tích cực, phải là người hành động, sắp xếp thứ tự ưu tiên cho công việc, biết cách từ chối… Tuy nhiên, tôi cho rằng quan trọng nhất là biết lắng nghe các thông tin phản hồi. Đây là nguyên tắc mà phần lớn mọi người không thích thực hiện. Có thể bạn rất dễ nổi nóng trước những ý kiến chỉ trích nhưng là doanh nhân thì bạn càng phải biết nghe những phản ánh của khách hàng để làm tốt hơn nữa và phải trân trọng những lời chỉ trích.

+ Vậy ông thường nghe thông tin phản hồi bằng cách nào?

- Một trong những cách thu thập sự phản hồi hiệu quả là hãy đặt câu hỏi. Thiết lập một thang điểm từ 1-10, sau đó yêu cầu các đối tượng có liên quan cho điểm đánh giá về sản phẩm, dịch vụ mà bạn cần biết. Nếu đối tượng được hỏi cho điểm dưới 10, thì bạn đừng quên hỏi tiếp: “Làm thế nào để đạt đến điểm 10?”. Hãy cố gắng thỏa mãn những điều khách hàng của bạn mong muốn và yêu cầu.

+ Trong số những nguyên tắc để thành công ông vừa kể trên, ông có nói một cá nhân muốn thành công thì phải làm việc trong môi trường của những người tích cực. Như vậy một doanh nhân muốn thành công, trong công ty của họ sẽ chỉ có toàn những người tích cực?

- Đúng, doanh nghiệp sẽ phải tuyển các nhân viên tích cực cho mình và phải luôn huấn luyện, nuôi dưỡng tinh thần này cho nhân viên. Một đội ngũ nhân lực luôn sẵn sàng đón nhận công việc.

+ Nhưng nếu trong một tổ chức mà ai cũng luôn nói “vâng” trước mọi đề nghị, không có những người thích tranh cãi, hay chỉ trích thì làm sao nhà lãnh đạo có được những ý kiến phản biện tốt cho những ý tưởng mới?

- Một thái độ tích cực là phải biết nói không trước những ý tưởng không hiệu quả. Một nhà lãnh đạo tích cực là không nổi giận trước những lời chỉ trích, mà thay vào đó là câu hỏi: “Nếu là tôi, anh sẽ làm gì?” hoặc “Theo anh, chúng ta phải làm gì?”…

+ Con người một khi đã thành công rồi thì lại càng muốn thành công hơn nữa. Theo ông, có phải một người thành công là người nên biết cách dừng lại đúng lúc?

- Không ai có thể biết hết tương lai của mình và hiểu hết về bản thân mình. Là con người, ai cũng muốn ngày mai sẽ tốt hơn ngày hôm nay, và luôn học hỏi những điều mới. Tôi cho rằng bạn càng hiểu rõ được mình là ai, bạn sẽ càng thành công. Tôi đã gặp nhiều người thành công nổi tiếng và tôi nhận thấy tất cả họ chưa bao giờ hết nhiệt tình và sự đam mê để đạt được mục tiêu.

+ Trong cuốn sách The Success Principles: How to get from where you are to where you want to be, ông đưa ra đến 64 nguyên tắc thành công. Ông có áp dụng hết những nguyên tắc này cho mình không?

- Có chứ, nhưng dĩ nhiên là không phải ngày nào và việc gì cũng áp dụng tất cả những nguyên tắc đó.

+ Vậy ông có nghĩ là mọi người sẽ tin và làm theo những nguyên tắc ông đề ra?

- Những nguyên tắc này được viết ra từ kinh nghiệm bản thân tôi và tôi đã phỏng vấn 75 người khác để chắc rằng những nguyên tắc thành công này là chung cho mọi người.

Có rất nhiều người đã viết thư cảm ơn tôi sau khi họ đọc sách.

+ Một doanh nhân đã từng thành công, nay gặp thất bại, ông sẽ khuyên gì để giúp họ thành công trở lại?

- Có hai việc phải làm. Thứ nhất, nhìn lại suốt cả một quy trình, suy nghĩ xem điều gì đã làm được và điều gì chưa làm. Kế tiếp là xác định rõ mình muốn gì, lập kế hoạch hành động một cách cẩn thận, triển khai từng bước và đánh giá kết quả. Điều quan trọng là đừng bao giờ để mình bị chìm trong thất vọng. Thay vào đó phải làm việc, phải tin rằng mình làm được, phải tin rằng điều mình mong đợi sẽ đến.

+ Theo ông, quan niệm của con người về thành công có thay đổi theo thời gian không?

- Theo tôi, đã có nhiều thay đổi trong cách đánh giá về thành công. Bây giờ, khi nói đến thành công của một cá nhân hay của một doanh nghiệp thì phải xét đến nhiều mối tương quan. Thành công phải được hiểu theo nghĩa rộng, thành công của một người có liên quan đến nhiều người, nhiều quốc gia, nhiều giai tầng xã hội.

Hiện nay thế giới đã trở nên liên lập, con người phụ thuộc lẫn nhau. Do đó, khi nói tới thành công mỹ mãn của một doanh nghiệp, chúng ta phải xét đến sự phát triển vững bền của nó, xét đến việc công ty đó có gây tác hại đến môi trường hay không, có ảnh hưởng đến cộng đồng nơi mà doanh nghiệp đó hoạt động hay không...?

Sẽ không thể gọi là thành công nếu ngày hôm nay chúng ta làm tổn thương người khác, vì chắc chắn một ngày nào đó đến lượt mình sẽ bị tổn thương.

Chỉ 12% doanh nghiệp hợp tác tốt

Đó là kết quả một cuộc khảo sát mới đây được đưa ra tại “Hội thảo văn hóa doanh nghiệp, văn hóa doanh nhân trong quá trình hội nhập” do báo điện tử Đảng Cộng sản VN phối hợp với Phòng Thương mại và công nghiệp VN (VCCI) tổ chức ngày 7-11 tại Hà Nội.

PGS.TS Dương Thị Liễu, trưởng bộ môn văn hóa kinh doanh ĐH Kinh tế quốc dân, cho biết: “Theo kết quả cuộc khảo sát, doanh nhân có tinh thần hợp tác tốt chỉ chiếm 12%, nhưng kém thì có tới 52%. Các doanh nghiệp có uy tín quốc tế chỉ chiếm 4% và khả năng cạnh tranh quốc tế khá là 8%.

Theo bà Liễu, văn hóa doanh nghiệp của người VN cần phải thay đổi theo hướng sẵn sàng liên kết, hợp tác để đôi bên cùng có lợi thay vì chỉ nghĩ đến quyền lợi của chính bản thân mình. Tinh thần hợp tác, cùng làm ăn, cùng có lợi, cùng làm giàu phải được xem trọng và đặt chữ tín lên hàng đầu để thay đổi một hình ảnh chỉ thích làm ăn riêng lẻ, nghĩ đến quyền lợi cá nhân nhiều hơn quyền lợi của cộng đồng.

Doanh nhân trẻ Nguyễn Thanh Phượng: “Nên làm nhiều và nói ít thôi”





Phượng (ảnh) trẻ. Sức trẻ toát ra từ gương mặt, nụ cười, cách phục sức sành điệu. Ở tuổi 27, chị đã kịp tích lũy vào hồ sơ của mình thành tích học tập và kinh nghiệm làm việc khá ấn tượng.

“Tôi muốn Phượng của ngày mai, của năm sau phải thật sự khác Phượng của ngày hôm nay” - cô gái hiện là chủ tịch HĐQT Công ty quản lý quĩ đầu tư Bản Việt (Viet Capital Fund Management - VCFM) nói.

+ Chị được xem là doanh nhân trẻ nhất trong giới lãnh đạo các quĩ đầu tư tài chính chuyên nghiệp ở VN hiện nay. Đó là lợi thế hay khó khăn khi chị tiếp xúc với các đối tác để mời gọi họ góp vốn đầu tư?

- Trong công việc, cái luôn thiếu nhất của người trẻ là kinh nghiệm. Kinh nghiệm thì cần có thời gian, đây là điều mà những người trẻ không thể nóng vội. Tôi nghĩ đánh giá thực lực của một người không nhất thiết chỉ nhìn vào tuổi đời mà phải dựa vào quá trình học tập và đặc biệt là kinh nghiệm hay những việc cụ thể mà họ đã làm. Hơn nữa, phải tiếp xúc trực tiếp thì qua đó các tố chất của họ mới có cơ hội bộc lộ.

Còn việc một công ty quản lý quĩ huy động được vốn là do các nhà đầu tư tin tưởng vào thị trường, vào chiến lược, vào cách tổ chức hoạt động..., quan trọng nhất là họ phải tin vào đội ngũ lãnh đạo công ty, trong đó trình độ, kinh nghiệm, uy tín và vai trò của mỗi thành viên đều được đặc biệt quan tâm. Tôi tin rằng tuy là thành viên lãnh đạo trẻ nhất của công ty nhưng tôi cũng có những đóng góp thiết thực vào việc thành lập, tổ chức, tuyển chọn thành viên thích hợp vào các vị trí then chốt cho VCFM, cũng như huy động vốn cho quĩ đầu tư Viet Capital Fund.

+ Quĩ đầu tư Bản Việt (Viet Capital Fund - VCF) là quĩ thành viên với qui mô từ 500 - 800 tỉ đồng chỉ huy động vốn chủ yếu từ các cá nhân và DN tư nhân VN. Chị thấy mình “hợp khẩu vị” với những kiểu doanh nhân như thế nào?

- Đơn giản là chúng tôi gặp nhau ở một số điểm chung. Họ là những người có vốn nhàn rỗi lớn, có nhu cầu đầu tư và muốn ủy thác cho các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp, và họ đã chọn chúng tôi. Khi đánh giá một “anh hùng” trên thương trường, theo tôi, không nên chỉ nhìn ngay vào những thành tựu họ đang có mà phải chú trọng hơn vào cả chặng đường mà họ đã đi qua. Những nhà đầu tư góp vốn vào VCF có thể chưa phải là những “đại gia” nổi tiếng, nhưng chúng tôi có sự khâm phục khi nhìn vào mô hình và quan điểm kinh doanh của họ. Họ là những người có tầm nhìn bao quát, biết hướng tới lợi nhuận lâu dài, luôn kiên nhẫn và tin tưởng vào đội ngũ quản lý tài chính chuyên nghiệp mà họ đã ủy thác tài sản.

Trong thời gian này, VCFM cũng đang bận rộn chuẩn bị huy động quĩ công chúng nước ngoài với qui mô dự kiến 100 triệu USD. VN là một thị trường nhiều tiềm năng trong hiện tại và cả tương lai, vì thế khả năng huy động vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài là rất lớn.



Nguyễn Thanh Phượng từng là phó giám đốc tài chính của Holcim VN Ltd, sau đó là giám đốc đầu tư của Vietnam Holding Asset Management - công ty đang quản lý Quĩ Vietnam Holding của các nhà đầu tư Thụy Sĩ với qui mô 112,5 triệu USD.

Cô đã tham gia nhiều khóa đào tạo về quản trị danh mục đầu tư, danh mục đầu tư chọn lựa, quản trị tài sản tại Thụy Sĩ và Mỹ. Cô là cử nhân Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội và nhận bằng MBA tại Đại học Geneva (Thụy Sĩ).
+ Khi gây quĩ đầu tư ở nước ngoài, uy tín cá nhân của người đi “gom tiền” rất quan trọng. Chị thường nói gì về mình và về VN để giành được sự tin cậy nhất định?

- Tôi là một trong những thành viên trong ban lãnh đạo đứng ra thuyết trình và giải đáp những thắc mắc trong việc đầu tư vào VN. Các nhà đầu tư quan tâm đến từng người trong đội ngũ điều hành. Họ đọc rất kỹ tiểu sử từng vị trí, nền tảng học vấn, kinh nghiệm...Tất nhiên sự lưu loát, khéo léo của người thuyết trình sẽ có tác động khá lớn đến quyết định của nhà đầu tư. VN gần đây đã nổi lên như một tâm điểm đầu tư của thế giới, vấn đề quan trọng là phải trình bày một cách thuyết phục những câu hỏi như: Tại sao đầu tư vào VN? Tại sao đầu tư vào thời điểm này? Và tại sao nên ủy thác cho chúng tôi?...

+ Trên thị trường đang xuất hiện ngày càng nhiều quĩ đầu tư với rất nhiều tên tuổi lớn. Chị có ngại là VCF phải đối mặt với một môi trường cạnh tranh khốc liệt?

- Mỗi quĩ đầu tư luôn có đặc thù và một hướng đi riêng. Ở đây còn là sự khác nhau về lĩnh vực, ngành nghề ưu tiên, chiến lược đầu tư và cả cách tiếp cận nữa. Cũng không thể phủ nhận một điều là thị trường chứng khoán VN còn khá nhỏ về qui mô nên với những quĩ đầu tư lớn, đặc biệt là những quĩ công chúng, đều có chiến lược gần như phải giống nhau. Vấn đề là quĩ nào có đội ngũ mạnh hơn thì sẽ thành công hơn. Đây là điều VCFM quan tâm ngay trước khi thành lập và tôi hiện đang khá tự tin về đội ngũ của mình.

+ Chị có cho rằng mình thành công quá sớm?

- Tôi luôn tỉnh táo, hay nói cách khác là tôi vẫn đứng trên mặt đất chứ không phải đang bay! (cười). Với tuổi đời như tôi thì phải biết tự nhủ là đường về nhà còn xa lắm. Tôi yêu nghề đầu tư tài chính vì theo quan điểm cá nhân, tôi cho nó là đỉnh cao của rất nhiều nghề. Vì còn trẻ nên theo đuổi nghề này tôi biết mình còn thiếu nhiều lắm, phải tiếp tục học và tiếp tục trải nghiệm. Chắc chắn sẽ có nhiều thử thách phía trước. Tôi luôn học từ công việc, từ các cộng sự, bạn bè trong giới, các doanh nghiệp đối tác...Tôi học ở mọi người và học mỗi ngày. Một ngày đối với tôi sẽ không phải là ngày hiệu quả nếu hôm ấy tôi không học được những điều bổ ích. Ở một góc độ khác, tôi nghĩ có vài điều mà người ta cũng có thể học được từ một cô gái tuổi đôi mươi như tôi. Tóm lại là nên làm nhiều và nói ít thôi! (cười).

NHƯ HẰNG thực hiện

Triết lý ly cà phê Starbucks

Dân Mỹ càng ngày càng có khuynh hướng biến ý nghĩa hai chữ triết lý (philosophy) thành ra lối sống hay lối hành xử trong cuộc sống (lifestyle). Nếu cần uống một tách cà phê, chọn một chữ dễ hiểu thay cho chữ rắc rối để giúp mình thư giãn thì e cũng nên làm. Triết lý ly cà phê Starbucks!

Starbucks là ai mà ghê gớm thế? Về mặt hình tướng, hắn chẳng có gì ghê gớm cả. Chỉ là cái quán cà phê nhỏ nhắn, nép mình khiêm tốn bên góc của một khu thương mại mới xây. Có khi hắn thu mình gọn lỏn trong một phòng xép tại một trung tâm kinh doanh nổi tiếng lẫy lừng và lâu đời nhất của một thành phố lớn nhất nhì thế giới.

Nhiều nơi, hắn cũng chỉ là cái sạp cà phê (coffee stand) đứng nép mình khiêm tốn trong một siêu thị sang trọng hay trong một nhà sách tư nhân lớn như một thư viện trung ương mang tên Barn & Noble. Hắn là một tên khổng lồ kinh tế đang chu du khắp thiên hạ dưới dạng một gã bán buôn lãng tử bình dân, một loại siêu sao bên hè phố.

Đạo quân kinh tế của Starbucks hiện đang có mặt trên khắp 50 tiểu bang của Mỹ với hơn 8.600 cửa hàng nhộn nhịp suốt ngày. Tổng số Starbucks, hiện đang có khoảng 12.000 cửa hàng cà phê trên toàn thế giới với 125.000 nhân viên phục vụ và doanh thu hơn 6 tỉ đô la hàng năm.

Công ty này đề ra mục tiêu là sẽ có 40.000 tiệm cà phê của họ trên toàn thế giới. Họ dự kiến vào năm 2007 sẽ mở vào khoảng 2.400 cửa hàng mới; nghĩa là cứ thuận đà mỗi ngày sẽ có 6 tiệm cà phê Starbucks mới tà tà mọc lên đâu đó.

Khắp nơi trên đất Mỹ và tại một số thành phố lớn trên thế giới, mỗi sáng sớm, suốt bốn mùa xuân hạ thu đông, mới bảnh mắt đã có người sắp hàng trước quầy cà phê Starbucks.

Có những buổi sáng phải đứng cả 15 phút để đợi đến phiên mua một ly cà phê bé bỏng trong lúc ở nhà cà phê lon, cà phê gói vẫn ngoan ngoãn nằm chờ mới thấy được tinh thần xông pha cao độ của giới hâm mộ cà phê Starbucks.

Càng ngày, tôi càng khám phá ra rằng, người ta mê, bất cứ mê gì, cũng đều phải trải qua một quá trình thẩm định phức tạp. Đơn giản như trường hợp người mê cơm hến Huế. Người ta mê không phải chỉ vì con Hến Cồn thanh nhã hay vì hương vị của các loại rau nồng nàn níu gọi mà mê vì tổng hợp hương vị của quán cơm hến. Dĩ nhiên, phải tính luôn cả sự hấp dẫn của cái áo dài vá vai và cả cái nếm tỉnh queo ngon ơ của o chủ gánh cơm hến trước khi chìa tô cơm hến cho khách nữa!

E cái triết lý Starbucks nó cũng na ná như thế. Mặc dầu quán cà phê Starbucks rất khiêm tốn đầu tiên của anh chàng Howard Schultz mở ra tại Seattle (lại Seattle!) - ... tổng hành dinh của Bill Gates - chủ Microsoft giàu có nhất thế giới - và của William Boeing - chủ công ty máy bay Boeing lớn nhất thế giới - từ 35 năm trước, nhưng gã chân quê tôi đây chỉ mới làm quen với hương vị Starbucks đâu dăm ba năm nay thôi.

Đầu tiên, tôi thích hương vị cà phê đen nóng Starbucks vì nó là trung bình cộng giữa hương vị đậm đặc của tách cà phê phin "cái nồi ngồi trên cái cốc" và hương vị nước lèo "bèo dạt hoa trôi" nhạt thếch của cà phê Folgers chế bằng máy của Hoa Kỳ.

Nguyên tại thành phố Sacramento, thủ phủ tiểu bang California, cách đây trên 20 năm, có một nhà kinh doanh trẻ tuổi, trí thức VN. Anh đã bỏ nghề giáo sư đại học để xây dựng nên hệ thống cà phê La Bou nổi tiếng, đứng hàng đầu trong vùng với hàng loạt cửa hàng mở ra khắp vùng Bắc Cali và rất được ưa chuộng.

Nhưng cách đây chừng 5 năm, khi hệ thống cà phê Starbucks tiến vào cạnh tranh ở vùng này thì hệ thống La Bou dần dần trở thành bóng mờ. Cũng tương tự như thế, hệ thống cà phê Java City vang bóng một thời và gần 30 thương hiệu cà phê ở vùng nầy không cạnh tranh nổi với hệ thống Starbucks.

Một ly cà phê đen, nóng, cỡ nhỏ của La Bou, Java City hay Starbucks cũng chỉ tốn mất 1 đôla 45 xu mà thôi (so với giá trung bình của một ly cà phê sữa đá tại các tiệm ăn VN tại Mỹ là 3 đôla và một tô phở hay bún bò là 5 đôla). Nhưng sao mỗi sáng lái xe trên xa lộ đông nghẹt, tôi vẫn cố lách vào ngã rẽ có quán cà phê Starbucks xa hơn các tiệm kia tới mấy dặm đường.

Câu hỏi then chốt đặt ra ở đây là: "Những nét đặc biệt gì và những phẩm chất nào đã làm cho Starbucks trở thành một "anh hùng hè phố" tại Mỹ cũng như tại một số nước có nền kỹ nghệ và thương mại tiên tiến như hiện nay?".

Trong cuốn "bạch thư" của ông chủ lớn và cũng là người sáng lập ra cà phê Starbucks, Howard Schultz, nhan đề: Rót Cả Tâm Hồn Vào Đáy Cốc: Starbucks Đã Xây Dựng Công Ty Bán Lẻ Từng Cốc Cà Phê Như Thế Nào (Pour Your Heart into It: How Starbucks Built a Company One Cup at a Time), ông ta không giấu diếm về những bí quyết đã đưa Starbucks thành một trong những công ty kinh doanh khổng lồ của thế giới như hiện nay.

Dĩ nhiên, quá trình không đơn giản. Một sự thành công hay thất bại nào trong kinh tế và thương mại cũng đều có sự liên quan chằng chịt với vô số vấn đề. Bên cạnh các mặt tài chánh, quản lý và cạnh tranh mà bất cứ cơ sở kinh doanh lớn nhỏ nào cũng phải cần đến, có thể ở nhiều mức độ khác nhau, có 4 yếu tố mà nhiều người cho là quan trọng nhất để tạo sức bật trong sinh hoạt kinh tế là: (1) Tính quần chúng, (2) Tính sáng tạo độc đáo, (3) Năng lực quảng cáo tiếp thị và (4) Sức mạnh tổ chức nội bộ.

Theo Kristy Thurmond, một cây viết sắc sảo về lĩnh vực kinh tế và thương mại trong Moneyline (11-8-2006) của báo Lone Star Economy ở San Antonio thì sự thành công của Starbucks chủ yếu là vì đã đạt được tính quần chúng rất cao.

Thurmond trích dẫn lời của ông chủ và đồng thời cũng là người sáng lập Starbucks, Howard Schultz, đã "cáo yết" trước quần chúng rằng: "Chúng tôi không ở trong tư thế của tầng lớp kinh doanh cà phê mà ở về phía khách hàng uống cà phê".

Nghĩa là ông ta muốn xác định rằng ông ta và 12 vạn quân Starbucks thật sự đứng về phía "quần chúng nhân dân" hay đồng nghĩa với sự làm giàu công khai trên thương trường với sự hưởng ứng nồng nhiệt và tiếp tay đắc lực của khách hàng.

Kristy Thurmond bảo vệ cho nhận định của bà bằng cách dẫn chứng những việc làm cụ thể của Starbucks qua các bài nhận định và phân tích trên Moneyline.




- Về hình thức, hầu hết mọi quán cà phê Starbucks đều xuất hiện một cách khiêm tốn và bình dân. Từ màu sắc các bức tường đến cách thiết kế trần nhà, ghế ngồi, quầy hàng có một nét độc đáo riêng.

Khách vào uống cà phê hay sắp hàng mua cà phê Starbucks mang đi, tuy đủ mọi hạng người và mọi tầng lớp, giai cấp xã hội, nhưng hầu như mọi người đều cảm nhận được bầu không khí ấm cúng, thân hữu và không phân biệt khi bước vào bất cứ một quán cà phê Starbucks nào.

- Vị trí của các quán cà phê Starbucks tại những khu thương mại đồ sộ, mới xây cất tại Mỹ là một kinh nghiệm quý báu về "tính quần chúng" cho các nhà kinh doanh. Starbucks thường nằm ở một vị trí rất khiêm tốn trong toàn khu thương mại; phần lớn nằm ở vị trí của một góc nào đó.

Nhỏ nhắn, không trang trí màu mè, nhưng sự xuất hiện của Starbucks lại rất bắt mắt và nổi bật trong một khu thương mại có nhiều cửa hàng sang trọng, được kiến trúc tân kỳ và mỹ thuật.

Người ta sẽ ngạc nhiên một cách đầy thích thú và thán phục khi biết rằng, những nhà chủ thầu kinh doanh xây dựng (developer) thường gọi mời Starbucks đầu tiên trong số những cửa hàng tương lai trong khu thương mại. Thế nhưng cách chọn vị trí tại những góc rất khiêm tốn trong toàn cảnh giữa trung tâm thương mại chứng tỏ bản lĩnh cao cường của tập đoàn kinh doanh Starbucks về các mặt tâm lý, kỹ thuật, mỹ thuật và văn hóa.

- Tính quần chúng chiêu khách của Starbucks còn được thể hiện trên các sản phẩm "cà phê" dành cho phụ nữ và trẻ em không bao giờ uống cà phê. Bởi vậy, từ dân ghiền cà phê nhà nòi đến các tay uống cà phê tơ lơ mơ đều kiếm được một ly cà phê hợp với trình độ và khẩu vị thưởng thức cà phê của mình. Do đó, cà phê Starbucks tại Mỹ đang trở thành một dấu hiệu tượng trưng về sự "sành điệu" của khách thích uống cà phê và thích ngồi quán cà phê.

Nhóm đầu não của Starbucks gần đây còn đề ra tham vọng là sẽ biến quán cà phê Starbucks thành nơi gặp gỡ của TS.

- Và, nét đặc trưng nhất của Starbucks là tính nhân bản hay nói một cách nôm na hơn là tình người. Hơn một nửa trong tổng số 125 nghìn nhân viên của Starbucks làm việc bán thời gian. Nhưng chỉ cần làm việc 20 giờ mỗi tuần trở lên (toàn thời gian theo luật lao động quốc tế là 40 giờ) thì người làm cho Starbucks đã hưởng được bảo hiểm sức khỏe và quy chế an sinh, phúc lợi xã hội căn bản.

Chủ nhân Starbucks đã hãnh diện tuyên bố rằng, tiền mua bảo hiểm sức khoẻ cho nhân viên còn nhiều hơn là tiền mua cà phê từ châu Mỹ, châu Á, châu Phi để cung cấp cho toàn bộ hệ thống Starbucks.

Nghề làm Giám đốc tài chính

Chân dung các CFO trong tương lai - Thành công hay không phụ thuộc vào chính bạn - Ảnh: TS
Trên “sàn đấu” WTO, yếu tố quyết định tính thắng bại của doanh nghiệp có phần là năng lực quản lý. Hiện tại, đa phần các doanh nghiệp VN chưa có bộ phận quản trị tài chính chuyên nghiệp, đứng đầu là giám đốc tài chính (Chief Financial Officer - CFO).

Vậy CFO khác với một kế toán trưởng như thế nào và việc thiếu chức danh này sẽ ảnh hưởng gì đến các doanh nghiệp VN?

Công việc của một CFO

Công việc của một CFO có thể gói gọn lại trong việc chịu trách nhiệm đưa ra ba quyết định chủ yếu: quyết định về chính sách đầu tư, quyết định về chính sách tài trợ và quyết định về chính sách phân phối. Tiêu chuẩn chung để làm căn cứ đưa ra ba quyết định này là làm sao để tối đa hóa giá trị tài sản của các cổ đông.

Để cho dễ hiểu, công việc cụ thể của một CFO có thể kể ra như sau: Phân tích và đưa ra các công cụ quản trị rủi ro tài chính; theo dõi và đánh giá các dữ liệu tài chính; chuẩn bị các báo cáo đặc biệt và đưa ra các dự báo cần thiết; hoạch định ngân sách vốn đầu tư; lập mô hình tài chính; phân tích và quản lý danh mục đầu tư; thiết lập và duy trì các quan hệ với ngân hàng và các cơ quan hữu quan.

Do đó việc nhầm lẫn giữa chức vụ CFO với kế toán trưởng đã dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Trước hết là thiếu hụt chuyên gia quản lý chuyên nghiệp nhằm thường xuyên đánh giá tình hình tài chính, đảm bảo “sức khỏe” tài chính cho doanh nghiệp. Kế đến là việc điều hành tài chính rất lúng túng, bỏ qua nhiều cơ hội đầu tư, đặc biệt là trước xu thế bùng nổ của thị trường tài chính, ngân hàng của VN trong giai đoạn hội nhập.

Tóm lại, hậu quả bao trùm tình trạng thiếu CFO trong doanh nghiệp là hiệu quả kinh doanh thấp, rủi ro cao do thiếu minh bạch và sự phát triển thiếu bền vững.

Điều kiện để trở thành một CFO

Để trở thành một CFO thì ngoài những kiến thức chuyên sâu về quản trị tài chính, kế toán, bạn cần có những hiểu biết rộng về các lĩnh vực khác, chẳng hạn như tài chính quốc tế, tín dụng, ngân hàng...Bạn cần phải là một nhà hoạch định chiến lược kinh doanh và bắt đầu suy nghĩ như là thành viên của hội đồng quản trị. Không những thế, bạn còn phải làm quen với các thuật ngữ chuyên môn cũng như quan tâm tới các mặt hoạt động của doanh nghiệp.

Đặc biệt, vì tính kỉ luật và tính tổ chức cộng với khả năng trình bày những thông tin tài chính một cách khoa học, trung thực, các kiểm toán viên độc lập (Certified Public Accountant - CPA) rất phù hợp để trở thành CFO.

Ứng viên CFO phải biết nhận biết và đưa ra các phương pháp giảm thiểu rủi ro.

Những điều kiện ngặt nghèo nêu trên đã khiến nhiều người từ bỏ ước mơ của mình và đó cũng chính là một trong những lí do vì sao mà chỉ có số ít người VN có khả năng trở thành một CFO. Nhưng nếu bạn quyết tâm và nỗ lực thì ước mơ có thể sẽ trở thành hiện thực.

Nghề tư vấn doanh nghiệp

Trường cùng các cộng sự trẻ trao đổi về một dịch vụ tư vấn
TTCN - “Bạn là doanh nghiệp muốn phát triển? Hãy đến tôi. Bạn là chính phủ muốn vực dậy đất nước? Hãy đến tôi”. Đó là lời “rao” đầy tự tin và ấn tượng của một công ty tư vấn quốc tế ở TP.HCM. Tuy nhiên, công ty này cũng như nhiều đồng nghiệp khác đều khẳng định: nghề tư vấn doanh nghiệp ở VN mới đang ở… khúc dạo đầu. Vì còn quá mới mẻ nên nó là “cuộc chơi” hấp dẫn nhưng cũng lắm thử thách…

Có nhãn hiệu

Đôi mắt nhanh nhẹn, tự tin khuất sau kính trắng, Nguyễn Thanh Quang trông trẻ hơn tuổi 42 của mình. Là Việt kiều Mỹ về nước, anh đang làm giám đốc dịch vụ tư vấn của PricewaterhouseCoopers (Vietnam) Ltd. Đồng nghiệp VN chỉ biết anh vừa xuất hiện trên “chợ” tư vấn hơn năm nay. Nhưng nhiều chuyên gia tư vấn quốc tế lại rành rẽ “Mr Quang” vì anh đã qua mấy công ty ở Mỹ, lăn lộn mười mấy năm trong nghề và thực hiện thành công nhiều dự án tư vấn qui mô quốc tế.

Không ôm đồm nhiều, Quang tập trung hoạt động chiều sâu trong một số lĩnh vực tư vấn tài chính, nhân sự, chiến lược... Từ khi về nước đến giờ, anh và đồng nghiệp thực hiện được trên mười dự án tư vấn từ quản lý ngành nghề cấp trung ương đến doanh nghiệp quốc doanh, tư nhân, đầu tư nước ngoài, kể cả sang một số nước lân cận.

So với Quang, Nguyễn Sơn Trường là nhà tư vấn rặt VN, vừa tròn 30 tuổi. Anh tốt nghiệp ĐH Kinh tế quốc dân, làm kế toán cho Vietnam Airlines. Công việc không ít người mơ ước nhưng phải ngồi một chỗ vẫn làm anh nhấp nhổm. Nộp đơn đi học MBA ở Bỉ, anh về nước và làm cho Oracle VN.

Năm 2000, theo nhu cầu thị trường, anh và gần 10 người khác tách ra lập Công ty Pythis chuyên tư vấn triển khai công nghệ thông tin cho doanh nghiệp. Công ty đã nhận nhiều dự án tư vấn triển khai công nghệ thông tin doanh nghiệp, kể cả cho một số tổng công ty lớn và công ty quốc tế tại VN. Có những dự án Trường là người thực hiện, nhưng nhiều lần anh nắm trách nhiệm quản lý dự án.

Cũng giống Trường, nhưng nhà tư vấn Nguyễn Bá Thọ, giám đốc Công ty cổ phần tư vấn MKC, trải qua nhiều việc hơn. 38 tuổi, tốt nghiệp cao học quản trị kinh doanh, anh có nhiều năm làm trưởng đại diện bán hàng, giám đốc kinh doanh, dự án cho một loạt tên tuổi như Meko, Dệt Thái Tuấn, Gạch Đồng Tâm, Italian Home… Chính học hành và kinh nghiệm đã giúp Thọ thành công trong việc lập nhóm tư vấn MCG năm 1997, rồi năm 2002 là MKC…

Trên dịch vụ tư vấn, Trường, Quang, Thọ thuộc nhóm nhà tư vấn chuyên môn làm việc cho công ty. Hiện nay, ở VN đã có mặt cả các công ty quốc tế lớn hoạt động tư vấn kiểm toán, đầu tư, quản trị, luật pháp, chiến lược, nhân sự, thông tin như PricewaterhouseCooper, KPMG, TDNT, Ernst &Young, Arthur Andersen… Đây là những tên tuổi toàn cầu đã được gầy dựng hàng chục, thậm chí hơn 120 năm như PricewaterhouseCooper.

Công ty hiện có mặt trên 150 nước. Mặc dù mới có mặt tại VN, công ty cũng đã có đội ngũ 60 chuyên gia ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Hoạt động của công ty này ở VN bao trùm nhiều lĩnh vực, từ việc làm cẩm nang hướng dẫn về đặc điểm đầu tư, tài chính qui mô khu vực, quốc gia đến các dịch vụ tư vấn ở từng bộ ngành, công ty. Còn Ernst & Young hiện có hơn 100.000 nhân viên hoạt động ở 670 văn phòng trên 140 nước. Ở VN, công ty này đã thực hiện tư vấn thành công khá nhiều dự án, mà đặc biệt là ở khu vực doanh nghiệp…

So với nước ngoài, các công ty tư vấn VN đông hơn nhưng qui mô nhỏ hơn. Phần lớn mới xuất hiện, nhưng nhiều công ty cũng đã đứng được tên tuổi như ICC, BCC, FPT, NetViet, MaxCommunication, Storm Eyes, Vietnammarcom, MKC… Làm nhiều lĩnh vực nhưng mỗi công ty có thế mạnh riêng, như MKC “cứng” trong tổ chức kênh phân phối nội địa, tái cấu trúc hệ thống, quản lý dự án; còn NetViet, BCC thì mạnh trong việc “săn đầu người”, huấn luyện kỹ năng quản lý; FPT, Pythis thì phát triển lĩnh vực công nghệ thông tin...

Không nhãn hiệu



Một khảo sát mới đây của Chương trình Phát triển kinh tế tư nhân Mekong (MPDF) và Cơ quan Hợp tác kỹ thuật Đức (GTZ) trên 48 doanh nghiệp tư vấn quản trị, 6 cơ quan tư vấn nhà nước hoặc phi lợi nhuận, 28 nhà tư vấn cá nhân, cho thấy:

- Tuổi đời các công ty tư vấn ở VN mới có 2,8 năm;

- 60% hoạt động ở TP.HCM, 33% ở Hà Nội;

- Độ tuổi trung bình của nhà tư vấn là 30-40 tuổi;

- Trên 30% nhà tư vấn có bằng MBA, 30% có bằng cử nhân quản trị doanh nghiệp;

- Dịch vụ tư vấn được sử dụng nhiêu nhất là tư vấn về thuế và đầu tư với khoảng 0,9-2,3%.
Họ là các nhà tư vấn độc lập bao gồm giáo sư, nhà nghiên cứu hay giám đốc, chuyên viên... Họ không nằm trong công ty hoặc công ty họ làm không có dịch vụ tư vấn. Nếu như ở VN từng có những tên tuổi như tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh đã được quốc tế biết đến và từng làm việc cho WB, thì nhiều nhân vật khác như tiến sĩ N.H.G., luật sư N.N.B., giáo sư N.H.C., L.V.H.… cũng đã có uy tín trong giới tư vấn và doanh nghiệp.

Trong đó, tiến sĩ N.H.G. (không muốn nêu tên) tốt nghiệp ĐH Sorbonne, Pháp về. Ông đã từng giảng dạy đại học từ trước năm 1975 và làm thêm lĩnh vực ngân hàng, đầu tư tài chính. Còn N.N.B. là luật sư, nhà nghiên cứu kinh tế. Ông không chỉ có phương pháp luận vững chắc mà còn khẳng định được khả năng thực tế sau nhiều “gói” tư vấn thành công cho doanh nghiệp.

Đa số các nhà tư vấn độc lập chỉ làm theo từng vụ việc, hợp đồng cụ thể, ít ra mặt. Nhưng một số là nhà tư vấn “ruột” của doanh nghiệp nào đó. Họ xây dựng vấn đề, chiến lược cho doanh nghiệp hoặc ngồi ghế phản biện. Mức thu nhập của nhà tư vấn độc lập “ruột” thường dao động ở 1.000 - 1.500 USD/tháng. Cuối năm, kết quả kinh doanh tốt, họ sẽ được phong bì nặng hơn…

Giá tư vấn là mềm, cứng?

Để vào làm cho công ty tư vấn hay trở thành nhà tư vấn độc lập thì bằng cấp chỉ là một phần. Điều quan trọng là họ còn phải tự khẳng định mình bằng kinh nghiệm, thành tích công việc và những tố chất không thể thiếu. Giá tư vấn cũng rất đa dạng, tùy mức độ công việc, đối tượng khách hàng. Nhưng nhìn chung, chuyên gia tư vấn nước ngoài thường có giá cao hơn VN.

Cùng dự án tư vấn triển khai hệ thống quản lý nhân sự cho một công ty, nếu chuyên gia Mỹ làm, anh ta có thể nhận được 50.000 USD, nhưng chuyên gia Ấn Độ: 25.000 - 30.000 USD, còn VN: 20.000 -30.000 USD. Mặc dù ở VN sự nhận thức về tư vấn chưa được đầy đủ cũng như chính dịch vụ tư vấn chưa có thời gian, công việc để khẳng định đẳng cấp chất lượng, thì giá cả là biện pháp cạnh tranh cơ bản, nhưng không phải lúc nào nó cũng là điều kiện tiên quyết.

Trong “cuộc đấu”, các công ty tư vấn quốc tế có thế mạnh nhờ hệ thống toàn cầu và thương hiệu của mình. Họ thường thắng thầu dự án lớn, nhất là cấp quốc gia, bộ ngành. Còn phía VN có lợi thế cạnh tranh từ chính quan hệ của nhà tư vấn với kinh nghiệm và sự hiểu biết sâu sắc doanh nghiệp nội địa. Họ tiếp cận, nắm bắt vấn đề doanh nghiệp rất nhanh, nhưng thường kém dồi dào “kho” giải pháp, nhất là các giải pháp chiến lược dài hơi. Trong khi các công ty quốc tế có rất nhiều mẫu giải pháp.

Phần lớn mới tham gia những dự án vừa và nhỏ, nhưng nhà tư vấn VN cũng đã khẳng định được đẳng cấp. Ngày mà Nguyễn Sơn Trường ngồi trước hai “đối thủ” nước ngoài để đấu thầu dự án tư vấn “Triển khai hệ thống thông tin quản lý doanh nghiệp” cho nhà sản xuất thép Z quốc tế ở Hà Nội, ít ai tin anh sẽ thắng. Biết công ty mình “khó đấu” bằng bề dày thương hiệu, anh bình tĩnh trình bày khả năng với mục đích cho Z biết không chỉ giảm giá mà còn có thể đảm bảo chất lượng. Và anh đã thắng.

Kết cục ngoạn mục: xong việc chỉ trong 67 ngày, trước hạn hợp đồng hơn hai tuần. Riêng Thọ thì có nhiều công việc để khẳng định mình. Gần đây, MKC của anh đã “chiến đấu” với sáu công ty tư vấn (có bốn nước ngoài) để giành thầu tư vấn “Tổ chức kênh phân phối nội địa” cho công ty dệt may K nhà nước. Cuối cùng MKC được chọn và hoàn tất tốt đẹp công việc trong hai năm.

Còn Quang, mười mấy năm trong nghề ở công ty hàng đầu thế giới, đã khẳng định mình bằng cả bề dày công tác quốc tế. Anh thực hiện tư vấn thành công cho rất nhiều công ty tin học, điện tử, tài chính, hàng không tầm cỡ thế giới. Gần đây, Quang và đồng sự mới “gỡ rối” thành công cho một ngân hàng quốc tế ở Campuchia.

Họ mua một phần mềm kế toán để làm việc với giá 60.000 USD, nhưng mới “chạy” ít hôm đã bất ổn. Quang được mời qua khảo sát, tư vấn. Ngay ngày đầu tiên anh đã phát hiện “lỗ hổng” nghiêm trọng. Không cần mật mã, anh vẫn xâm nhập được vào tài khoản khách hàng. Quang tư vấn nên lập tức bỏ ngay phần mềm kế toán đó để thay bằng phần mềm khác của Thụy Sĩ. Đối tác gật đầu...

Thất bại cứng, thất bại mềm?



Vài lý do để sử dụng dịch vụ tư vấn:

- Họ là những người có kinh nghiệm, chuyên môn sâu rộng về vấn đề mình cần.

- Họ là những người bên ngoài nên có cái nhìn khách quan, toàn diện, cũng như có thể đưa ra những giải pháp quyết liệt nhất mà người bên trong khó làm được.

- Chi phí phải trả một lần cho họ thấp hơn rất nhiều so với thuê hẳn các chuyên viên làm việc thường trực cho công ty.
Tùy yêu cầu, có giải pháp khác nhau, nhưng thường một qui trình tư vấn phải qua những bước cơ bản. Sau khởi đầu tạo dựng niềm tin ở cả hai phía mới xác định yêu cầu của khách hàng và tìm hiểu đủ thông tin để xác định “bệnh tình lẫn nội lực”. Các công ty tư vấn lớn vì bảo vệ uy tín sẵn sàng chấp nhận lỗ thời gian, tiền bạc để giải quyết đến cùng vấn đề, nhưng thực tế thất bại “cứng, mềm” vẫn có thể xảy ra.

Gần đây, công ty tư vấn quốc tế P ở TP.HCM đã tư vấn cho một khách hàng ở Đà Nẵng “Hệ thống quản lý nhân sự bằng điện toán” với giá 7.000 USD. Việc đơn giản, xong nhanh. Nhưng ba tháng sau họ quay lại thì thấy công ty đó vẫn đang... sử dụng giấy bút, còn hệ thống vi tính “trùm mền” do phía tư vấn không cùng “đẩy” đến cùng. Sau đó họ phải chịu lỗ, bỏ thêm tiền túi gần 10.000 USD để làm cho xong.

Tuy nhiên, đó chỉ là một thất bại “mềm”. Có những thất bại “cứng” mà khi xảy ra nhà tư vấn chỉ còn nước... đổi nghề. Giới doanh nhân Hà Nội có lẽ khá rành chuyện hai anh em Việt kiều N.T. ôm về nước gần 3 triệu USD, chỉ hơn năm sau đã khóc ròng. Họ tính mở chuỗi nhà hàng kinh doanh hải sản lớn và vào tận TP.HCM để tìm hiểu cũng như nhờ nhà tư vấn độc lập K. “chỉ bảo”. Ông là giáo sư đại học nổi đình nổi đám với công ty riêng ăn nên làm ra. Hai bên bắt tay tin tưởng. Giá tư vấn trọn gói: 20.000 USD.

Nhưng càng theo đuổi thực hiện, anh em nhà N.T. càng cháy túi... Vụ việc được rút kinh nghiệm: ý chí, vốn liếng làm ăn không thiếu, nhưng cung cách thực hiện sai hoàn toàn. Nhà tư vấn K. là người miền Nam rặt. Ông giỏi làm ăn trong đây cũng như lý thuyết kinh doanh, nhưng rất lờ mờ những “tiểu tiết” trong môi trường kinh doanh Hà Nội. Tất cả đều không phù hợp từ chọn vị trí mặt bằng đến trang trí, thiết kế thực đơn...

Chiếc áo đã chật

Nhiều dự báo thị trường rất lớn đang dần “mở cửa” với dịch vụ tư vấn. Khoảng 90% doanh nghiệp VN mới ở tuổi 10-15, sau thời gian gầy dựng, tạm đứng được, họ đang khao khát phát triển. Nhưng “chiếc áo mặc đã chật”, cần một tái cấu trúc tất cả từ qui mô công ty, nhân sự đến kỹ năng, chiến thuật, chiến lược kinh doanh, nhất là ra “chợ” quốc tế, trong khi đa số doanh nghiệp đã “quá tải” cả ở công việc lẫn chất xám. Đây chính là mảnh đất màu mỡ cho dịch vụ tư vấn phát triển…

Tuy nhiên, mọi thành công, thất bại của dịch vụ tư vấn ở VN đến nay đều được người ta “nhẹ nhàng” qui về một mối: “Tại còn non trẻ quá mà!”. Đây là nghề đầy hấp dẫn, thu nhập cao, nhưng “chơi” được nó không dễ. Số người in danh thiếp “nhà tư vấn” cũng không chênh bao nhiêu với số xé nó đi. Chính vì thế, nhiều ý kiến đã ủng hộ việc nhanh chóng ra đời hiệp hội tư vấn để giúp ổn định, nâng cao chất lượng dịch vụ cũng như sàng lọc những “hạt sạn” ảnh hưởng đến nghề nghiệp này.

Thứ Năm, 31 tháng 1, 2013

THUẬT NGỮ “THỊ TRƯỜNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ”, “THỊ TRƯỜNG CÔNG NGHỆ” TIẾP CẬN TỪ PHÁP LUẬT VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ

Hiện nay, thuật ngữ “thị trường khoa học và công nghệ (KH&CN)” và thuật ngữ “thị trường công nghệ” được các tác giả sử dụng khác nhau, thậm chí trong cùng một văn bản dùng đồng thời cả hai thuật ngữ này. Dưới góc độ pháp luật về sở hữu trí tuệ (SHTT), tác giả cho rằng: khoa học không thể trở thành hàng hóa, do đó không tồn tại thị trường khoa học, và tất nhiên không tồn tại thị trường KH&CN…

Dẫn nhập

Thuật ngữ “thị trường KH&CN”, “thị trường công nghệ” hiện đang được dùng trong các văn bản quản lý nhà nước về KH&CN, cũng như trong các nghiên cứu về KH&CN, có thể điểm qua như sau:

- Văn bản quản lý nhà nước về KH&CN:

Mục II. Tạo lập thị trường KH&CN, trong Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện kết luận của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về KH&CN (ban hành kèm theo Quyết định số 188/2002/QĐ-TTg ngày 31.12.2002 của Thủ tướng Chính phủ), có ghi:

“1. Hoàn thiện và xây dựng mới các cơ chế, chính sách để hỗ trợ và thúc đẩy phát triển thị trường KH&CN;…

3. Hình thành các tổ chức quản lý và hỗ trợ phát triển thị trường công nghệ”…[1].

- Các nghiên cứu về KH&CN:

+ Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (2006), Phát triển thị trường KH&CN: kinh nghiệm của Trung Quốc và Việt Nam.

+ Hoàng Thúy (2007), Các giải pháp thúc đẩy thị trường KH&CN phát triển, Tạp chí Công nghiệp, 7.2007, tr. 14-15.

+ Hoàng Xuân Long (2007), Tăng cường quản lý thị trường công nghệ ở địa phương, Tạp chí Công nghiệp, 8.2007, tr. 14-15.



Qua đó cho thấy, thuật ngữ “thị trường KH&CN”, “thị trường công nghệ” đang được các tác giả dùng khác nhau, thậm chí cả hai thuật ngữ này được dùng đồng thời ngay trong một văn bản như vừa nêu. Vậy hai thuật ngữ này là khác nhau hay cùng có chung một nghĩa? Bài viết này sẽ lý giải điều đó – tiếp cận từ quyền SHTT. Giới hạn nghiên cứu của bài viết này chỉ dừng lại ở việc xác định tồn tại cả hai thuật ngữ hay chỉ tồn tại một trong hai thuật ngữ nêu trên mà chưa đưa ra khái niệm đầy đủ về các thuật ngữ này.

Thuật ngữ “thị trường”

Do khuôn khổ có hạn, bài viết không khảo sát khái niệm thị trường, mà chỉ đưa ra định nghĩa theo từ điển, trong đó nêu Thị trường: 1. Hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa nói chung; 2. Nơi thường xuyên tiêu thụ hàng hóa[2]. Như vậy, điều kiện tiên quyết để tồn tại thị trường là phải có hàng hóa để mua, bán, trao đổi, nếu không có hàng hóa thì không tồn tại thị trường. Nói cách khác, thị trường bao gồm 4 yếu tố cơ bản: có hàng hóa (hàng hóa được đề cập trong mục này có thể tồn tại ở dạng hữu hình – công cụ, phương tiện hoặc ở dạng vô hình – tài sản trí tuệ); người bán (bên cung hàng hóa); người mua (bên cầu hàng hóa); tập hợp các quy định điều chỉnh hoạt động mua, bán.

Thuật ngữ “thị trường KH&CN”

Trong các văn bản và nghiên cứu được trích dẫn ở trên thì chỉ có nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (2006), Phát triển thị trường KH&CN: kinh nghiệm của Trung Quốc và Việt Nam là đưa ra khái niệm thị trường KH&CN khi bàn đến cả quan niệm của các học giả nước ngoài và các học giả trong nước. Nghiên cứu này nhận định: “Khái niệm thị trường KH&CN do các học giả Trung Quốc đưa ra không khác biệt nhiều so với khái niệm đang được thừa nhận ở Việt Nam. Về cơ bản theo các tác giả Trung Quốc, thị trường KH&CN cũng giống như các thị trường khác, được hình thành trên cơ sở ba điều kiện sau: (i) Phải có hàng hoá, đây được coi là điều kiện thiết yếu nhất cho thị trường hình thành và phát triển; (ii) Phân công lao động xã hội phải phát triển tương ứng sao cho tồn tại quan hệ cung – cầu giữa các thành viên trong xã hội và giữa các loại hình sản xuất trong xã hội, tức là phải có người có nhu cầu đối với hàng hoá KH&CN và người có khả năng cung ứng những hàng hoá này; (iii) Phải có phương tiện thanh toán đáp ứng nhu cầu của người bán. Mặc dù coi thị trường KH&CN cũng là một dạng thị trường hàng hoá nhưng các chuyên gia Trung Quốc và Việt Nam đều thống nhất cho rằng thị trường KH&CN là một loại thị trường đặc biệt. Tính đặc biệt này được tạo ra do đặc tính của “hàng hoá” KH&CN. Khác với các hàng hoá khác, hàng hoá KH&CN có những đặc tính đặc biệt sau: (a) Hàng hoá của KH&CN thực chất là kiến thức được thể hiện dưới một dạng vật chất hữu hình như bằng sáng chế nhưng cũng có thể vô hình dưới dạng các ý tưởng công nghệ; (b) Việc xác định giá trị của hàng hoá rất khó khăn do lao động được kết tinh trong hàng hoá là lao động trí óc và tồn tại sự bất đối xứng thông tin giữa người bán và nguời mua. Trong đó, thông thường trong trường hợp này, người bán (nhà phát minh, sáng chế) ở vị thế mặc cả kém hơn người mua; (c) Hàng hoá KH&CN mang tính chất tác động ngoại lai (externality) tích cực mà ở đó, lợi ích xã hội do hàng hoá đem lại lớn hơn lợi ích cá nhân; (d) So với các hàng hoá khác, hàng hoá KH&CN được sản xuất và phát triển muộn hơn so với các hàng hoá vật thể thông thường”.

Nghiên cứu này nhận định thêm: đối với một vấn đề còn đang được tranh luận nhiều hiện nay ở Việt Nam là nên sử dụng khái niệm “thị trường công nghệ” hay “thị trường KH&CN”, các tác giả Trung Quốc cho rằng không nên hiểu tách biệt giữa KH&CN[3].

Khi tìm hiểu khái niệm thị trường KH&CN trong nghiên cứu trên, chúng tôi đã tra cứu Luật phát triển KH&CN của Trung Quốc[4] và nhận thấy Luật này không định nghĩa thuật ngữ “khoa học”, “công nghệ”, cũng không hề nhắc đến thuật ngữ “thị trường KH&CN” (Sciense and Technology Market), nhưng điều 12 của Luật này lại nhắc đến thuật ngữ thị trường công nghệ (Article 12. The State shall establish and develop technology market to promote the commercialization of scientific and technological achievements…). Bởi vậy, rất khó có thể bình luận quan niệm của các học giả Trung Quốc về khái niệm thị trường KH&CN trong nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (2006) nêu trên. Xin lưu ý, chúng tôi chỉ nói “khó có thể bình luận…” khi tiếp cận từ Luật phát triển KH&CN của Trung Quốc thông qua văn bản tiếng Anh, rất tiếc chúng tôi không có điều kiện để tiếp cận với bản gốc tiếng Trung của Luật này, đồng thời cũng chưa có điều kiện để tiếp cận với các luật khác của Trung Quốc trong lĩnh vực KH&CN (dù chỉ ở bản dịch tiếng Anh).

Tại khái niệm thị trường KH&CN trong nghiên cứu nêu trên, chúng tôi chú ý đến yếu tố “… hàng hoá của KH&CN thực chất là kiến thức được thể hiện dưới một dạng vật chất hữu hình như bằng sáng chế nhưng cũng có thể vô hình dưới dạng các ý tưởng công nghệ”, trong đó sáng chế được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, ý tưởng công nghệ có thể được bảo hộ là bí mật kinh doanh (cũng là một đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp) nếu nó là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh theo quy định của điều 4.23 Luật SHTT.

Khoa học có thể trở thành hàng hóa không?

Điều 2.1. Luật KH&CN định nghĩa: Khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy. Đồng thời điều 2.4. Luật KH&CN cũng định nghĩa: Nghiên cứu khoa học là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn. Nghiên cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng.

Hệ thống tri thức trong định nghĩa về khoa học nêu trên là kết quả của nghiên cứu cơ bản. Sản phẩm của nghiên cứu cơ bản là các khám phá, phát minh, phát hiện, dẫn đến việc hình thành một hệ thống lý thuyết có giá trị tổng quát, ảnh hưởng đến một hoặc nhiều lĩnh vực khoa học[5]. Các khám phá, phát minh, phát hiện… được thể hiện trong các tác phẩm khoa học, chúng được bảo hộ quyền tác giả theo quy định của Công ước Berne 1886 về bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật và theo Luật SHTT. Các sản phẩm vừa nêu có thể thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên (như định luật vạn vật hấp dẫn của Newton, định luật bất biến tiết diện của các quá trình sinh hạt của Nguyễn Văn Hiệu,…), cũng có thể thuộc lĩnh vực khoa học xã hội (như quy luật giá trị thặng dư của K. Marx, quy luật “bàn tay vô hình” trong nền kinh tế thị trường của Adam Smith…).

Cần nhấn mạnh rằng, pháp luật về quyền tác giả không bảo hộ nội dung phát minh và phát hiện, theo điều 6.1 Luật SHTT thì: Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện d­ưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất l­ượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay ch­ưa công bố, đã đăng ký hay ch­ưa đăng ký. Để chứng minh cho nhận định này, chúng tôi xin lấy trường hợp định luật bất biến tiết diện của các quá trình sinh hạt của Nguyễn Văn Hiệu (định luật này đang còn hiệu lực bảo hộ cả về quyền nhân thân và quyền tài sản). Khi pháp luật bảo hộ quyền tác giả của Nguyễn Văn Hiệu đối với định luật bất biến tiết diện của các quá trình sinh hạt thì pháp luật cũng không cho phép Nguyễn Văn Hiệu quyền ngăn cấm người khác áp dụng nội dung của định luật này. Nói cách khác, không có ai lại bỏ tiền ra mua quyền sở hữu hay quyền sử dụng định luật bất biến tiết diện của các quá trình sinh hạt[6]. Bởi vậy, hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy không thể trở thành hàng hóa để có thể mua, bán, trao đổi trên thị trường.

Trong một tài liệu khác, khoa học còn được hiểu là: 1. Hệ thống tri thức; 2. Hoạt động xã hội; 3. Hình thái ý thức xã hội; 4. Thiết chế xã hội[7]. Nếu hiểu khoa học theo nghĩa rộng này thì hoạt động xã hội, hình thái ý thức xã hội, thiết chế xã hội cũng không thể trở thành hàng hóa để có thể mua, bán, trao đổi trên thị trường.

Nhận định 1: Khoa học không thể trở thành hàng hóa. Khi khoa học không thể trở thành hàng hóa thì không tồn tại thị trường khoa học như trên đã nêu.

Thuật ngữ “thị trường công nghệ”

Theo điều 2.4. Luật KH&CN thì nghiên cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng. Nghiên cứu ứng dụng là sự vận dụng quy luật được phát hiện từ nghiên cứu cơ bản để giải thích một sự vật, tạo ra những nguyên lý mới về các giải pháp và áp dụng chúng vào sản xuất và đời sống. Giải pháp được hiểu theo nghĩa rộng nhất của thuật ngữ này: có thể là giải pháp về công nghệ, về vật liệu, về tổ chức và quản lý[8]. Trong các dạng giải pháp vừa nêu, thì giải pháp về tổ chức và quản lý thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, nó không thể trở thành hàng hóa và bởi vậy không thuộc đối tượng của thị trường công nghệ.

Điều 2.2. Luật KH&CN định nghĩa: Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm. Công nghệ ở định nghĩa này có thể là sáng chế, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh (các đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp), trong đó quan trọng nhất là sáng chế. Điều 4.12 Luật SHTT định nghĩa: Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên. Công nghệ theo nghĩa này là tài sản vô hình. Nhưng công nghệ còn có thể được hiểu theo nghĩa rộng hơn, điều 3.2. Luật chuyển giao công nghệ định nghĩa: Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm. Như vậy, công nghệ theo nghĩa này còn có thể là tài sản hữu hình (công cụ, phương tiện). Nhân đây cũng cần nói thêm là công cụ, phương tiện chỉ được hiểu là bộ phận của công nghệ trong lần chuyển giao đầu tiên quyền sử dụng cho một chủ thể, còn các lần chuyển giao tiếp theo (cho chính chủ thể đó) thì công cụ, phương tiện chỉ là hàng hóa bình thường mà không được coi là một bộ phận của công nghệ.

Khác với việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm khoa học như đã nêu trên (không bảo hộ nội dung của phát minh, phát hiện), chủ sở hữu tác phẩm không có quyền ngăn cấm người khác sử dụng nội dung của tác phẩm, nhưng khi một công nghệ được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp thì chủ sở hữu của nó có quyền ngăn cấm người khác sử dụng công nghệ đó. Như vậy, người khác chỉ có quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng công nghệ nếu được chủ sở hữu công nghệ chuyển giao (quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng). Việc chuyển giao này thực chất là việc thuê, mua, bán hàng hóa công nghệ.

Nhận định 2: Công nghệ có thể trở thành hàng hóa. Khi công nghệ trở thành hàng hóa thì tồn tại thị trường công nghệ.

Kết luận

Từ nhận định 1 và nhận định 2 đã nêu, tiếp cận từ góc độ pháp luật về SHTT thì:

- Chỉ tồn tại thị trường công nghệ;

- Không tồn tại thị trường khoa học và tất nhiên không tồn tại thị trường KH&CN.

Cũng cần nhắc lại là bài viết chỉ nghiên cứu hai thuật ngữ đã nêu – tiếp cận từ pháp luật về SHTT mà không nghiên cứu chúng dưới các cách tiếp cận khác, đồng thời như giới hạn nghiên cứu đã chỉ rõ ở phần đầu bài báo, bài viết này chưa bàn đến nội hàm của khái niệm thị trường công nghệ. Đây là một vấn đề phức tạp, rất cần được các nhà khoa học, các nhà quản lý nghiên cứu sâu thêm và cùng trao đổi, bàn luận.

Bài đăng phổ biến