Hiển thị các bài đăng có nhãn Khai sinh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Khai sinh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 8 tháng 11, 2012

Hướng dẫn thủ tục đăng ký nhận cha mẹ, nhận con ngoài giá thú

     * Áp dụng cho các trường hợp:
     + Cha/mẹ/người giám hộ nhận mẹ/cha cho con chưa thành niên;
     + Con đã thành niên xin nhận cha/mẹ.
     + Cha hoặc mẹ xin nhận con chưa thành niên.
     * Điều kiện để đăng ký nhận cha, mẹ, nhận con ngoài giá thú:
       - Người nhận và người được nhận là cha, mẹ, con phải còn sống vào thời điểm đăng ký việc nhận cha, mẹ, con. Việc nhận cha, mẹ, con là tự nguyện, không có tranh chấp giữa những người có quyền, lợi ích liên quan đến việc nhận cha, mẹ, con.
       - Người con đã thành niên hoặc người giám hộ của người con chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự cũng được làm thủ tục nhận cha, mẹ, con trong trường hợp cha, mẹ đã chết nếu việc nhận cha, mẹ là tự nguyện không có tranh chấp giữa những người có quyền  và lợi ích liên quan đến việc nhận cha, mẹ.
       - Trường hợp cha, mẹ của trẻ chung sống với nhau như vợ chồng, nhưng không đăng ký kết hôn, người mẹ để con lại cho người cha và bỏ đi không xác định được địa chỉ, thì người cha làm thủ tục nhận con, không cần phải có ý kiến của người mẹ.
       - Trường hợp con sinh ra trước ngày cha, mẹ đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận, thì tên của người cha sẽ được ghi ngay trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh của người con mà người cha không phải làm thủ tục nhận con.
* Thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, nhận con ngoài giá thú:
     1. Người nhận cha, mẹ, con điền và nộp mẫu tờ khai về việc nhận cha, mẹ, con tại tại trụ sở UBND xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận là cha, mẹ, con. (Trường hợp cha hoặc mẹ nhận con chưa thành niên, thì phải có sự đồng ý của người hiện đang là mẹ hoặc cha, trừ trường hợp người đó đã chết, mất tích, mất năng lực hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự)
(Bấm vào link, đợi 5s, bấm Skip Ad ở góc trên bên phải để tải mẫu)
     2. Người đi đăng ký phải xuất trình các giấy tờ sau:
      - Bản chính hoặc bản sao Giấy khai sinh của người đ­ược nhận là con (trong tr­ường hợp nhận con); của ngư­ời nhận cha, mẹ (trong trư­ờng hợp xin nhận cha, mẹ).
      - Bản chính CMND, hộ khẩu của người nhận và người được nhận là cha, mẹ, con.
     - Các giấy tờ, tài liệu, đồ vật hoặc các chứng cứ khác để chứng minh giữa người nhận và người đ­ược nhận có mối quan hệ cha, mẹ, con (nếu có).
     - Giấy chứng tử của cha, mẹ trong trường hợp nhận cha, mẹ đã chết.
     3. Thời hạn giải quyết và lệ phí:
     - Trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấy việc nhận cha, mẹ, con là đúng sự thật và không có tranh chấp, UBND xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận là cha, mẹ, con thực hiện đăng ký việc nhận cha, mẹ, con. Trường hợp cần xác minh có thể kéo dài thêm không quá 5 ngày.
     - Lệ phí: 10.000 đồng
     * Một số điểm lưu ý:
     - Thẩm quyền đăng ký: UBND cấp xã, nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận là cha, mẹ, con thực hiện đăng ký việc nhận cha, mẹ, con.
     - Khi đăng ký việc nhận cha, mẹ, con, các bên cha, mẹ, con phải có mặt, trừ trường hợp người được nhận là cha hoặc mẹ đã chết.
     - Cán bộ tư pháp hộ tịch ghi vào sổ đăng ký việc nhận cha, mẹ, con và quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con. Chủ tịch UBND cấp xã ký và cấp cho mỗi bên một bản chính quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con. Bản sao quyết định được cấp theo yêu cầu của các bên.
     - Bổ sung, cải chính sổ đăng ký khai sinh và giấy khai sinh của người con:
     + Căn cứ vào quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con, UBND cấp xã, nơi đã đăng ký khai sinh cho người con ghi bổ sung phần khai về cha, mẹ trong sổ đăng ký khai sinh và bản chính giấy khai sinh của người con (nếu phần khai về cha, mẹ trước đây để trống).
     + Trường hợp sổ đăng ký khai sinh đã chuyển lưu 1 quyển tại UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thì UBND cấp xã thông báo cho UBND cấp huyện để ghi tiếp việc bổ sung. Trường hợp phần khai về cha, mẹ trong sổ đăng ký khai sinh và bản chính giấy khai sinh của người con đã ghi tên người khác, không phải là cha, mẹ đẻ, thì đương sự phải làm thủ tục cải chính theo quy định.
* Các văn bản quy định:
Giải đáp một số trường hợp cụ thể
1. Tôi yêu và có con với anh ấy, sau đó mới biết anh ấy chưa ly hôn. Tôi ở vậy nuôi con, nhưng vấn đề tôi gặp vướng mắc là việc khai sinh cho con tôi, anh ấy có đến UBND phường xin làm thủ tục cha nhận con, và sau đó làm giấy khai sinh cho con tôi có cả cha và mẹ, nhưng cán bộ Tư pháp hộ tịch từ chối không giải quyết việc cha nhận con, mà chỉ làm thủ tục khai sinh cho con tôi mang họ của mẹ, phần khai về cha để trống. Vậy xin hỏi giải quyết như vậy có đúng pháp luật không?
     Trả lời:
     Theo khoản 3 Điều 15 Nghị định 158/2005/NĐ-CP quy định về thủ tục đăng ký khai sinh: “… Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh có người nhận con, thì UBND cấp xã kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh.” Như vậy, việc cán bộ tư pháp của UBND phường từ chối không đăng ký khai sinh có cả cha và mẹ khi mà người cha đã đến làm thủ tục nhận cha con là không đúng quy định pháp luật.
2. Chúng tôi không đăng ký kết hôn và khi tôi sinh con thì cha cháu không thừa nhận. Nay con tôi 5 tuổi, cha của cháu đã quay lại xin nhận con. Xin hỏi việc bổ sung tên cha vào giấy khai sinh của con có thực hiện được không? Thủ tục như thế nào?
     Trả lời:
     Để bổ sung tên cha vào giấy khai sinh, người cha cần phải làm thủ tục đăng ký việc nhận cha cho con. Thủ tục đăng ký việc nhận cha cho con đã  rõ nêu trên (Điều 33, 34, 35 Nghị định 58/2005/NĐ-CP và Nghị định 06/2012/NĐ-CP sửa đổi Nghị định về hộ tịch, hôn nhân và gia đình và chứng thực). UBND cấp xã nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận (cha, mẹ, con) thực hiện việc đăng ký.
3. Chúng tôi sống chung với nhau như vợ chồng nhưng chưa đăng ký kết hôn. Sắp tới, vợ tôi sinh con. Chúng tôi muốn đăng ký khai sinh cả tên bố, mẹ cho con trong giấy khai sinh được không, thủ tục như thế nào?
     Trả lời:
     Do anh chị chưa đăng ký kết hôn, nên cháu bé là con của anh, chị coi là con ngoài giá thú. Để giấy đăng ký khai sinh có tên của cả cha và mẹ đứa trẻ, thì anh, chị cần phải thực hiện kết hợp 02 thủ tục hành chính là đăng ký khai sinh và đăng ký việc nhận con cùng một lúc. Nghị định 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch, quy định rõ vấn đề này, cụ thể:
     - Đăng ký khai sinh (Điều 15): Tham khảo thủ tục tại bài viết Hướng dẫn thủ tục đăng ký làm giấy khai sinh cho con   
     - Đăng ký việc nhận con (Điều 34, Điều 35): Các thủ tục đã nêu rõ ở bài viết trên.
4. Tôi có con ngoài giá thú, và vợ chồng chị gái đứng tên là cha mẹ của đứa trẻ khi làm thủ tục khai sinh. Cháu hoàn toàn do tôi nuôi dưỡng ăn học, nay đã đi học và tôi muốn trả lại đúng tên cha mẹ cho con. Xin cho biết tôi phải làm những thủ tục gì?
     Trả lời:
     - Thủ tục đã nêu rõ ở trên.
     - Bên cạnh thủ tục nói trên, Điều 64 Luật Hôn nhân và gia đình cũng quy định: “Người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình”.
     Theo quy định này, người có yêu cầu xác định cha, mẹ cho con gửi đến tòa án nhân dân cấp quận, huyện nơi cư trú đề nghị giải quyết khi việc nhận cha, mẹ, con phát sinh tranh chấp. Trong trường hợp cần thiết, theo yêu cầu của đương sự, Tòa án sẽ tiến hành trưng cầu giám định ADN để có căn cứ khoa học khi xét xử.
     Với các quy định nói trên, nếu vợ chồng chị gái của chị và cha đẻ cháu bé đều thống nhất với việc chị nhận lại con đẻ, để cha mẹ đẻ đứng tên trên Giấy khai sinh của cháu bé thì thủ tục nhận con sẽ được thực hiện tại UBND xã, phường nơi cư trú của chị và cháu bé.
5. Em bị thất lạc gia đình từ nhỏ. Mới đây mới tìm lại được cha. Em muốn làm thủ tục nhận cha con nhưng trong thủ tục quy định phải có các giấy tờ, đồ vật hoặc chứng cứ để chứng minh quan hệ cha con. Em không rõ những giấy tờ đó là gì? Liệu có phải đi xác định ADN để chứng minh là quan hệ cha con không?
     Trả lời:
     Căn cứ vào các quy định tại Nghị định 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch và Nghị định 06/2012/NĐ-CP thì pháp luật về hộ tịch không quy định khi nhận cha, mẹ, con đương sự bắt buộc phải có xác định ADN. Do đó, đối với trường hợp của bạn khi bạn muốn nhận cha con thì không cần thiết phải có xét nghiệm ADN.
6. Bạn tôi (anh A) quan hệ với gái gọi và có con 14 tháng tuổi. Gia đình cô gái dùng đứa trẻ để uy hiếp đòi tiền anh ấy. Sau khi kiểm tra ADN xác nhận chính xác là cha, xin hỏi anh A có thể đòi quyền nuôi con hay không? Anh ấy rất muốn nhận nuôi đứa bé.
     Trả lời:
     Muốn đòi quyền nuôi con, trước hết anh A phải làm thủ tục nhận cha cho con.
     - Điều 43 khoản 1 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Người không được nhận là cha, mẹ hoặc là con của người khác có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định mình là cha, mẹ hoặc là con của người đó”.
     - Điều 64 đoạn 1 Luật hôn nhân và gia đình năm 2001 quy định: “Người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định là con mình”.
     - Điều 11 khoản 2 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2005 quy định: “Trẻ em chưa xác định được cha, mẹ nếu có yêu cầu thì được cơ quan có thẩm quyền giúp đỡ để xác định cha, mẹ theo quy định của pháp luật”.
     - Điều 27 khoản 4 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2005, anh A có quyền khởi kiện tại tòa án nơi người mẹ và người con cư trú, để yêu cầu tòa án xác định cha cho con hoặc xác định con cho cha.
7. Con trai tôi có con ngoài giá thú. Hiện nay cháu đang ở với mẹ, học lớp 1 và mang họ của chồng sau cô ấy. Nay tôi mới biết sự việc nên muốn nhận cháu về. Tôi phải làm những thủ tục gì để làm khai sinh lại cho cháu mang họ của tôi? Cần những giấy tờ gì và đến đâu để nhập hộ khẩu của cháu vào gia đình tôi?
     Trả lời:
     - Trước hết con trai của ông phải đứng ra làm thủ tục xin nhận con, vì việc này không thể ủy quyền cho người khác được. Thủ tục đăng ký việc nhận con đã nêu rõ ở trên.
     - Thủ tục xin cải chính được quy định như sau: Người yêu cầu cải chính hộ tịch phải nộp tờ khai (theo mẫu quy định), xuất trình bản chính giấy khai sinh của người cần thay đổi, cải chính hộ tịch và các giấy tờ liên quan để làm căn cứ cho việc thay đổi cải chính hộ tịch. UBND cấp xã, nơi đã đăng ký khai sinh trước đây có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho người dưới 14 tuổi.
     Như vậy, con trai của ông sau khi có Quyết định công nhận việc nhận con thì cầm quyết định này cùng với giấy khai sinh của cháu bé và đến UBND cấp xã (nơi cháu bé đăng ký khai sinh trước đây) làm tờ khai để nơi đây cải chính trong sổ đăng ký khai sinh và bản chính giấy khai sinh của cháu bé (cụ thể: thay họ của cha kế thành họ của cha ruột).
8. Trước đây, tôi và mẹ cháu không thể lấy nhau vì nhiều lý do. Chúng tôi có một con ngoài giá thú (năm nay cháu 10 tuổi). Nay tôi muốn nhận con để giấy khai sinh của cháu có tên cha như bao trẻ em khác. Vậy tôi phải làm các thủ tục như thế nào để nhận con?
     Trả lời:
     Căn cứ vào quy định nêu trên bạn làm đầy đủ hồ sơ theo hướng dẫn và nộp cho bộ phận tư pháp xã để đề nghị giải quyết.
9. Tôi có một con ngoài giá thú. Trước đây, tôi và mẹ cháu không thể lấy nhau vì bị gia đình ngăn cản. Năm cháu lên 5 tuổi thì tôi kết hôn với người khác. Nay tôi muốn nhận con để giấy khai sinh của cháu có tên cha. Nhưng khi tôi đi làm thủ tục nhận cha cho con thì cán bộ tư pháp xã lại đòi tôi phải được sự đồng ý của vợ tôi. Tôi có thắc mắc là Nghị định 158 của Chính phủ không đòi hỏi thủ tục này nhưng cán bộ tư pháp vẫn không chấp nhận. Vậy tôi phải làm thế nào để nhận con?
     Trả lời:
     Các quy định tại Nghị định 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch và Nghị định 06/2012/NĐ-CP không đòi hỏi người nhận cha, mẹ phải được sự đồng ý của vợ hoặc chồng của mình. Người nhận cha, mẹ, con chỉ phải nộp tờ khai (theo mẫu) và xuất trình các giấy tờ theo quy định. Trong trường hợp cha hoặc mẹ nhận con chưa thành niên thì phải có sự đồng ý của người hiện đang là mẹ hoặc cha, trừ trường hợp người đó đã chết, mất tích, mất năng lực hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.
     Do đó, bạn có thể nộp đơn đề nghị chủ tịch UBND xã giải quyết vụ việc. Trường hợp vẫn bị từ chối giải quyết, bạn có thể nộp đơn khiếu nại để yêu cầu chủ tịch UBND xã xem xét, giải quyết. Kể từ ngày hết thời hạn giải quyết mà khiếu nại không được giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại của chủ tịch UBND xã mà bạn không đồng ý, bạn có quyền khiếu nại lên chủ tịch UBND huyện hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại TAND huyện.

Thứ Bảy, 9 tháng 6, 2012

Thủ tục đăng ký làm giấy khai sinh cho con theo họ mẹ

       Ngày càng nhiều người muốn khai sinh cho con theo họ mẹ, trong khi có đủ cả cha. Liệu pháp luật có cho phép và phải làm thủ tục như thế nào?
Tự ý đổi họ cho con
       Khi chị Nguyễn Thị Bích Huyền (Đống Đa, Hà Nội) sinh cháu thứ hai, bố mẹ đẻ của chị rất muốn vợ chồng chị khi đi đăng ký khai sinh cho cháu sẽ mang họ và dân tộc của chị Huyền là họ Nông và dân tộc Tày (theo họ và dân tộc của ông ngoại).
       Trong thâm tâm, chị Huyền rất muốn chiều theo nguyện vọng này của ông bà ngoại, chị còn tính sau này đi học cháu sẽ được hưởng một số chính sách ưu tiên của nhà nước với người dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, anh Hùng chồng chị thì nhất định không chịu, anh cho rằng việc để cháu mang họ của mẹ là một việc “trái quy luật”, xúc phạm đến anh và gia đình anh.
       Khác với chị Huyền, chị Dương Thị T. ở Đan Phượng, Hà Nội đã ly hôn với chồng được hai năm nay. Lý do đòi ly hôn của anh này vì anh nghi ngờ chị T. có quan hệ với người đàn ông khác và đứa trẻ sinh ra không phải là con anh. Mặc dù để chứng minh Tòa án đã trưng cầu giám định ADN và kết quả cho thấy cháu bé cùng huyết thống nhưng anh này vẫn không chịu. Bản án ly hôn có hiệu lực, số tiền chu cấp cho con hàng tháng, anh này không thực hiện.
       Tệ hơn, anh này luôn đi rêu rao với xóm làng về “nhân cách” của vợ cũ mình khiến chị T. rất bức xúc. Gần đây chị T. đến UBND xã đề nghị đổi họ cho con trai từ họ của chồng sang họ của chị, nhưng UBND xã chưa giải quyết vì cho rằng việc đổi họ phải có ý kiến của cha. Trong khi chị T. thì cho rằng không cần phải có ý kiến của chồng cũ vì việc mang họ cha làm ảnh hưởng đến cuộc sống của chị. Và đây là “lý do chính đáng” theo quy định của Bộ luật dân sự nên xã phải giải quyết cho con chị được mang họ mẹ.
Phải có sự đồng ý của cha
       Theo quy định tại điều 29, Bộ luật Dân sự (BLDS) cá nhân có quyền thay đổi họ, tên trong các trường hợp: Theo yêu cầu của người có họ, tên mà việc sử dụng họ, tên đó gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền, lợi ích hợp pháp của mình; Theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc người con khi xác định cha, mẹ cho con; Thay đổi họ cho con từ họ của cha sang họ của mẹ hoặc ngược lại…
       Tiết e, điểm 1, mục II Thông tư 01 của Bộ Tư pháp ngày 2/6/2008 hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định 158 về đăng ký và quản lý hộ tịch quy định:  Khi đăng ký khai sinh, họ và quê quán của con được xác định theo họ và quê quán của người cha hoặc họ và quê quán của người mẹ theo tập quán hoặc theo thỏa thuận của cha, mẹ. Trong trường hợp đăng ký khai sinh cho con ngoài giá thú, nếu không có quyết định công nhận việc nhận cha cho con, thì họ và quê quán của con được xác định theo họ và quê quán của người mẹ.
       Như vậy, pháp luật cho phép trẻ em sinh ra có thể mang họ của người mẹ, không bắt buộc phải theo họ cha, nhưng vấn đề là cần có sự thỏa thuận của hai bên cha, mẹ. Nếu một bên không đồng ý (ví dụ người cha) thì việc đổi họ rất khó khăn, nếu không nói là không thể thực hiện được.
       Việc khai họ cho con giờ đây đã không còn dập khuôn theo kiểu nhất định phải mang họ cha. Nhiều gia đình lại muốn đứa trẻ được khai sinh theo họ mẹ vì nhiều lý do khác khau. Tuy nhiên, mắc nhất vẫn là nhiều người (kể cả cha, mẹ) nhận thức chưa đầy đủ nên đã “nghiêm trọng hóa vấn đề” như trường hợp của chị Huyền nói trên.
      * Khoản 1 Điều 15 Nghị định 158/CP về đăng ký và quản lý hộ tịch quy định:
      - Người đi đăng ký khai sinh phải nộp giấv chứng sinh (theo mẫu quy định) và xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn của cha, mẹ trẻ em (nếu cha, mẹ của trẻ em có đăng ký kết hôn).
      - Giấy chứng sinh do cơ sở y tế, nơi trẻ em sinh ra cấp; nếu trẻ em sinh ra ngoài cơ sở y tế, thì Giấy chứng sinh được thay bằng văn bản xác nhận của người làm chứng. Trong trường hợp không có người làm chứng, thì người đi khai sinh phải làm giấy cam đoan về việc sinh là có thực.
      - Trong trường hợp cán bộ Tư pháp hộ tịch biết rõ về quan hệ hôn nhân của cha mẹ trẻ em, thì không bắt buộc phải xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn.

      *Thông tư 01 của Bộ Tư pháp ngày 2/6/2008 hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định 158/CP quy định:
      Khi đăng ký khai sinh, họ và quê quán của con được xác định theo họ và quê quán của người cha hoặc họ và quê quán của người mẹ theo tập quán hoặc theo thỏa thuận của cha, mẹ.
(Theo Báo Pháp luật Việt Nam online)

Hướng dẫn thủ tục đăng ký làm giấy khai sinh cho con năm 2013

khai sinh cho con
Bước 1: Người đi đăng ký khai sinh (cha, mẹ, ông, bà hoặc người thân thích khác của trẻ) chuẩn bị những giấy tờ sau:
      - Giấy chứng sinh (do Bệnh viện, Cơ sở y tế nơi trẻ sinh ra cấp). Nếu trẻ sinh ra ngoài cơ sở y tế, thì Giấy chứng sinh thay bằng văn bản xác nhận của người làm chứng. Nếu không có người làm chứng, người đi khai sinh làm giấy cam đoan việc sinh là có thực.    
      - Sổ Hộ khẩu (hoặc giấy chứng nhận nhân khẩu tập thể, Giấy đăng ký tạm trú có thời hạn của cha, mẹ trẻ. Trường hợp đã ly hôn thì mang hộ khẩu của người đi khai sinh.    
      - Giấy chứng nhận kết hôn của cha, mẹ trẻ (nếu cha, mẹ của trẻ có đăng ký kết hôn). Nếu cán bộ Tư pháp hộ tịch biết rõ quan hệ hôn nhân của cha mẹ, không bắt buộc xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn.  
      - CMND/Hộ chiếu Việt Nam (bản chính và bản photo) của cha mẹ hoặc người đi làm thay.
      - Điền mẫu tờ khai đăng ký khai sinh.
  •  TẢI MẪU TẠI ĐÂY (Bấm vào link, đợi 5s, bấm Skip Ad ở góc trên bên phải để tải mẫu)
Bước 2: Nộp các giấy tờ trên tại UBND xã, phường, thị trấn (gọi tắt là UBND cấp xã) nơi người mẹ đăng ký thường trú (áp dụng trong trường hợp cả cha và mẹ của trẻ là công dân VN cư trú trong nước)      
      - Nếu người mẹ có nơi đăng ký thường trú nhưng thực tế đang sinh sống, làm việc ổn định tại nơi đăng ký tạm trú, thì UBND cấp xã, nơi người mẹ đăng ký tạm trú cũng có quyền đăng ký khai sinh cho trẻ.
      - Trường hợp người mẹ không có nơi đăng ký thường trú thì UBND cấp xã nơi người mẹ đăng ký tạm trú thực hiện việc đăng ký khai sinh cho trẻ. Nếu không xác định được nơi thường trú, tạm trú của người mẹ thì UBND cấp xã nơi đăng ký thường trú của người cha thực hiện việc đăng ký khai sinh. Nếu không xác định được nơi cư trú của người mẹ và người cha, thì nộp tại UBND cấp xã, nơi trẻ đang sinh sống trên thực tế.
Một số trường hợp cụ thể khác:   
       - Đăng ký khai sinh cho trẻ bị bỏ rơi được thực hiện tại UBND cấp xã, nơi cư trú của người đang tạm thời nuôi dưỡng hoặc nơi có trụ sở của tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ đó.
       - Trường hợp khai sinh cho con ngoài giá thú, nếu không xác định được người cha, thì phần ghi về người cha trong Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh để trống. Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh có người nhận con, thì UBND cấp xã kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh.
      - Trẻ sinh ra tại VN, có cha và mẹ là công dân VN định cư ở nước ngoài: nộp hồ sơ tại UBND cấp xã, nơi người mẹ hoặc người cha cư trú trong thời gian ở VN.
      - Trẻ sinh ra tại VN, có cha hoặc mẹ là công dân VN cư trú ở trong nước, còn người kia là công dân VN định cư ở nước ngoài: nộp hồ sơ tại UBND cấp xã, nơi cư trú của người là công dân Việt Nam cư trú ở trong nước.
Bước 3: Tiếp nhận hồ sơ đăng ký khai sinh và cấp Giấy khai sinh  
       - Sau khi nhận và kiểm tra các giấy tờ trên, cán bộ Tư pháp - hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh, trình Chủ tịch UBND cấp xã ký vào bản chính Giấy khai sinh.
       - Giấy khai sinh chỉ được cấp 1 bản chính. Bản sao Giấy khai sinh được cấp theo yêu cầu của người đi khai sinh.
      - Thời hạn giải quyết cấp giấy khai sinh: trong 1 ngày. Trường hợp cần xác minh, không quá 05 ngày làm việc. Thời gian nhận giấy khai sinh: từ Thứ 2 đến sáng Thứ 7 hàng tuần.
Lưu ý:   
     - Làm giấy khai sinh không tính lệ phí.
     - Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày sinh con, cha, mẹ phải đi khai sinh cho con. Nếu không thể đi được thì nhờ ông, bà hoặc người thân thích đi làm giùm. Quá thời hạn quy định thì bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng (Khoản 1 Điều 10 Nghị định 60/2009/NĐ-CP xử phạt hành chính trong lĩnh vực tư pháp)

Giải đáp một số trường hợp cụ thể
1. Làm giấy khai sinh theo hộ khẩu của bố, khi chưa nhập khẩu của mẹ?
Vợ tôi mới sinh con được 10 ngày và tôi muốn làm giấy khai sinh cho con theo hộ khẩu của tôi nhưng tôi chưa nhập khẩu cho của vợ tôi, như vậy có được hay không?          
        Trả lời:
      - Theo nguyên tắc, con làm giấy khai sinh tại nơi người mẹ đăng ký HKTT, tuy nhiên trong trường hợp đặc biệt thì con có thể đăng ký khai sinh theo HKTT của người bố.     
      - Theo quy định tại Điều 13 Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch, thẩm quyền đăng ký khai sinh như sau:
      “UBND cấp xã nơi cư trú của người mẹ thực hiện việc đăng ký khai sinh cho trẻ. Nếu không xác định được nơi cư trú của người mẹ, thì UBND cấp xã nơi cư trú của người cha thực hiện việc đăng ký khai sinh. Nếu không xác định được nơi cư trú của người mẹ và người cha, thì UBND cấp xã nơi trẻ đang sinh sống trên thực tế thực hiện việc đăng ký khai sinh”     
      - Với quy định nêu trên thẩm quyền đăng ký khai sinh cho con bạn phải là UBND cấp xã nơi mẹ của cháu đăng ký hộ khẩu hoặc đăng ký tạm trú. Nếu không xác định được nơi cư trú của người mẹ thì mới xét đến việc khai sinh cho con bạn nơi tại nơi cư trú của bạn. Do vậy, đối với trường hợp của bạn, cách tốt nhất là nên nhập khẩu cho vợ bạn trước sau đó mới tiến hành đăng ký khai sinh cho con.
2. Làm giấy khai sinh cho con khi không đăng ký kết hôn
a) Tôi và vợ tôi chưa đăng ký kết hôn. Tôi có thể về nơi cư trú của vợ tôi để làm khai sinh cho con tôi được không? Vợ tôi không thể về quê làm được.          
        Trả lời    
      - Tại khoản 1 Điều 13 Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 về đăng ký quản lý hộ tịch quy định thẩm quyền đăng ký khai sinh là “UBND xã, phường, thị trấn nơi người mẹ cư trú thực hiện việc đăng ký khai sinh”.    
      - Trường hợp anh chị chưa có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, do vậy con khi sinh ra sẽ là con ngoài giá thú.    
      - Theo đó khoản 3 Điều 15 quy định: “…nếu vào thời điểm khai sinh có người nhận con thì UBND cấp xã kết hợp giải quyết nhận con và đăng ký khai sinh”. Như vậy, anh có thể về UBND xã phường nơi vợ anh cư trú để làm thủ tục nhận con và đăng ký khai sinh cho con.
b) Chúng tôi đã đến cán bộ hộ tịch xã nhưng họ yêu cầu là phải có đăng ký kết hôn thì cháu mới được mang họ bố, nếu không thì là con ngoài giá thú và chỉ được mang họ mẹ, đồng thời phần tên của người cha trong giấy khai sinh sẽ được để trống. Vậy vợ chồng tôi phải làm thế nào để cháu được mang họ bố trong giấy khai sinh?
        Trả lời:
      - Trong trường hợp bạn không đăng ký kết hôn, vào thời điểm làm giấy khai sinh cho trẻ bạn có thể tiến hành thủ tục nhận con, UBND xã/phường sẽ kết hợp việc nhận cha và làm giấy khai sinh cho trẻ, theo quy định tại Khoản 3 Điều 15 Nghị Định Số: 158/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch về thủ tục đăng ký khai sinh: 3. Trong trường hợp khai sinh cho con ngoài giá thú, nếu không xác định được người cha, thì phần ghi về người cha trong Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh để trống. Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh có người nhận con, thì Ủy ban nhân dân cấp xã kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh.
      - Theo quy định mục II, khoản 4, điểm b thông tư 01/2008/TT-BTP ngày 02/6/2008 hướng dẫn chi tiết Nghị định 58/NĐ-CP về đăng ký hộ tịch quy định: b) Trường hợp con sinh ra trước ngày cha, mẹ đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận, thì tên của người cha sẽ được ghi ngay trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh của người con mà người cha không phải làm thủ tục nhận con.
       Như vậy, bạn có thể đến UBND xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người mẹ thực hiện việc đăng ký khai sinh cho trẻ em; nếu không xác định được nơi cư trú của người mẹ, thì UBND cấp xã, nơi cư trú của người cha thực hiện việc đăng ký khai sinh. Và bạn cần lưu ý về thời hạn đăng ký khai sinh là trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày sinh trẻ.      
Các văn bản quy định liên việc đăng ký khai sinh

Bài đăng phổ biến