Thứ Tư, 6 tháng 5, 2009

HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ VẤN ĐỀ VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM

PGS.TS. LÊ QUỐC LÝ – LÊ VĂN CƯƠNG

Trong giai đoạn 2008-2009, tình hình kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn. Khủng hoảng kinh tế Mỹ và thế giới bắt đầu từ năm 2007 và đang tiếp tục diễn biến ngày một phức tạp và lan rộng. Một trong những tác động rõ nhất đó là tình trạng sụt giảm của thương mại toàn cầu thể hiện ở sự sụt giảm nhập khẩu hàng loạt hàng hoá tiêu dùng và các nguyên vật liệu từ thị trường bên ngoài. Điều này ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế và việc làm của người lao động ở các nước, trong đó có Việt Nam.

Hội nhập kinh tế quốc tế

Mặc dù các nền kinh tế trên thế giới đang gặp khó khăn do khủng hoảng, nhưng giai đoạn 2006-2010, toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế theo hướng ổn định, hợp tác để cùng phát triển tác động mạnh đến sự phát triển của mỗi quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt Nam. Hơn hai năm Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) là cơ hội tốt để Việt Nam hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, được đối xử bình đẳng trên “sân chơi chung” của thế giới. Hội nhập đem lại nhiều cơ hội việc làm, đặc biệt là việc làm theo hướng công nghiệp với hàm lượng vốn, tri thức cao; các rào cản pháp lý về di chuyển pháp nhân, thể nhân được nới lỏng, các quan hệ kinh tế, đối ngoại, lao động... được thiết lập tạo điều kiện cho lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.

Gia nhập WTO đã đem lại nhiều cơ hội thuận lợi cho Việt Nam, đặc biệt đối với lĩnh vực lao động và việc làm, cụ thể:

Gia nhập WTO tạo điều kiện mở rộng thị phần quốc tế cho các sản phẩm Việt Nam và thúc đẩy thương mại phát triển. Việt Nam có cơ hội xuất khẩu những mặt hàng tiềm năng ra thế giới nhờ được hưởng những thành quả của các vòng đàm phán giảm thuế và hàng rào phi thuế, tăng cường tiếp cận thị trường của WTO, đặc biệt trong các lĩnh vực hàng dệt may và nông sản. Cơ hội xuất khẩu bình đẳng có những ảnh hưởng tích cực đến hoạt động của các doanh nghiệp trong nước, sản xuất sẽ được mở rộng và tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động.

Tạo ra cơ hội gia tăng các giá trị tài sản vô hình cho bản thân người lao động và các doanh nghiệp thông qua các hoạt động hợp tác, chuyển giao công nghệ với các nước có nền công nghiệp tiên tiến trên thế giới. Đó là các chuẩn mực, mô hình hệ thống tổ chức quản lý hiện đại được áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất...

Tạo thêm cơ hội việc làm cho người lao động và nâng cao chất lượng nhân lực cho lao động của Việt Nam, đặc biệt là lao động kỹ thuật trình độ cao. Việt Nam gia nhập WTO sẽ đẩy nhanh hơn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn, sẽ có một lượng lớn lao động nông nghiệp, thanh niên nông thôn nhàn rỗi, thiếu việc làm tham gia vào hoạt động kinh tế trong các doanh nghiệp, các hộ gia đình, đơn vị kinh doanh cá thể... Điều này đồng nghĩa với mang lại nhiều cơ hội thay đổi công việc và tăng thu nhập cho một bộ phận lớn lao động nông nghiệp hiện nay. Hơn nữa, sự phát triển nhanh chóng về công nghệ và thiết bị sản xuất và các hoạt động trao đổi chuyên gia giữa các nước với Việt Nam sẽ làm cho trình độ chuyên môn kỹ thuật. Hợp tác quốc tế về lao động có cơ hội phát triển, từ đó góp phần nâng cao chất lượng nhân lực, để có thể làm chủ các công nghệ và thiết bị tiên tiến trên thế giới.

Tạo thêm nguồn lực vật chất cho phát triển nguồn nhân lực. Thông qua các dự án hợp tác đầu tư của các tập đoàn lớn trên thế giới vào Việt Nam, sẽ tạo ra các nguồn tài chính dồi dào hơn cho việc đổi mới công nghệ và thiết bị của các ngành kinh tế.

Việc hội nhập quốc tế sẽ tạo điều kiện và thúc đẩy việc thiết lập cơ cấu lao động theo định hướng thị trường. Đó là những lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao. Trong khi những lao động không có chuyên môn kỹ thuật phải được cắt giảm. Tạo điều kiện cho nhân lực lao động của nước ta tham gia sâu rộng hơn vào phân công và hợp tác lao động quốc tế. Đặt nền móng cho việc tạo việc làm một cách ổn định và bền vững.

Với tốc độ tăng trưởng kinh tế nước ta trong những năm tới lên khoảng 6,5-8,5%, đầu tư toàn xã hội năm 2009 ở mức khoảng 40% GDP, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nước ta vốn đăng ký khoảng trên 60 tỷ USD và vốn thực hiện khoảng 9 tỷ USD thì nhu cầu lao động có đào tạo trong nước sẽ rất lớn. Đối với bên ngoài, việc mở rộng hợp tác của chúng ta ngày một nhiều thì nhu cầu lao động được đào tạo xuất khẩu sẽ đáng kể.

Bên cạnh những cơ hội đó, hiện nay Việt Nam đồng thời cũng phải đương đầu với các thách thức như: nền kinh tế nước ta tuy có tăng lên nhưng vẫn còn là một trong những nước nghèo với mức GDP khoảng 1000 USD/người (năm 2008), hệ thống chính sách kinh tế-xã hội đang trong quá trình hoàn thiện, chưa đồng bộ, trình độ kỹ thuật, trình độ quản lý có sự chênh lệch lớn so với các nước phát triển.

Hội nhập kinh tế quốc tế cũng đặt ra nhiều thách thức trong giải quyết việc làm, các doanh nghiệp có sức cạnh tranh kém, quy mô nhỏ có nguy cơ phá sản; mất việc làm, thiếu việc làm lớn trong khu vực phi chính thức; chất lượng lao động chưa đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH... Đặc biệt trong tình hình hiện nay, khi các nền kinh tế lâm vào khủng hoảng thì việc làm sẽ giảm sút mạnh và tỷ lệ thất nghiệp sẽ tăng cao. Do vậy, việc xúc tiến việc làm của chúng ta ra nước ngoài sẽ khó khăn hơn.

Trong quá trình hội nhập, do cơ cấu lại nguồn nhân lực cộng với lao động dôi dư từ các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá, sẽ tạo ra các áp lực lớn về việc làm cho người lao động. Một bộ phận người lao động trong các doanh nghiệp sẽ mất việc làm do trình độ chuyên môn không đáp ứng được yêu cầu mới đặt ra. Điều này gây tác động xấu về mặt xã hội, làm cho tỷ lệ thất nghiệp tăng lên, người lao động mất việc làm, giảm thu nhập...

Cạnh tranh về lao động trình độ cao sẽ ngày càng gay gắt. Hội nhập, toàn cầu hoá trở thành xu thế chung, lao động nước ngoài (đặc biệt là lao động có kỹ thuật, trình độ quản lý...) tham gia vào thị trường lao động Việt Nam nhiều hơn, đồng thời lao động của Việt Nam cũng di chuyển ra nước ngoài nhiều hơn. Cạnh tranh trở nên gay gắt hơn, nhiều doanh nghiệp bị phá sản, nhiều người lao động bị mất việc làm; tốc độ đô thị hoá nhanh, người nông dân bị thiếu việc làm hoặc mất việc làm do thiếu đất canh tác...

Ngoài việc phải nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật, mức độ lành nghề thì các yêu cầu khác về chất lượng nguồn nhân lực đang được đặt ra như những thách thức mới. Đó là yêu cầu về ngoại ngữ, tin học, tác phong và văn hoá ứng xử công nghiệp, hiểu biết về luật pháp và thông lệ quốc tế... Điều này đòi hỏi lao động phải nhanh chóng học tập những cái mới, cái ưu việt, nhưng cũng cần phải loại bỏ những yếu tố không phù hợp và đi ngược lại với đạo đức và văn hoá Việt.

Sự dịch chuyển về cơ cấu lao động và di chuyển lao động tự do tới các vùng đô thị đang là vấn đề thu hút sự quan tâm đặc biệt của các cơ quan chức năng, nhiều địa phương và các nhà nghiên cứu hoạch định chính sách. Khi Việt Nam gia nhập WTO, thực trạng này còn diễn ra mạnh hơn và kéo theo nhiều tác động với mức độ lớn hơn. Hơn nữa, hội nhập kinh tế quốc tế có thể dẫn tới nguy cơ tăng khoảng cách thu nhập của người lao động. Điều này góp phần làm tăng khoảng cách về quyền lợi và địa vị xã hội giữa các nhóm lao động.

Trên thực tế, tiêu chuẩn lao động của quốc tế mang tính nhân quyền cao như: qui định các vấn đề liên quan đến lao động trẻ em; lao động cưỡng bức; chống phân biệt đối xử tại nơi làm việc, tự do hiệp hội và thoả ước lao động tập thể... Điều này đang đặt ra cho nguồn nhân lực các vấn đề mới cần giải quyết, như chi phí về nhân công tăng lên, các điều kiện làm việc cần được đầu tư và cải thiện tốt hơn, thành lập các hiệp hội tự do trong các ngành nghề...

513040.JPG

Vấn đề việc làm ở Việt Nam

Việt Nam luôn chú trọng và ưu tiên phần vốn ngân sách nhà nước cho chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm. Kết quả đầu tư ngân sách nhà nước đối với chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm như sau: Năm 2006 ngân sách nhà nước đầu tư cho chương trình là 265 tỷ đồng; năm 2007 là 300 tỷ đồng; năm 2008 là 327 tỷ đồng; năm 2009 là 413 tỷ đồng.

Vốn ngân sách nhà nước cho chương trình việc làm tăng đều qua các năm, trong đó bổ sung quỹ vốn vay giải quyết việc làm hàng năm tăng khá: năm 2006 bổ sung quỹ vốn vay giải quyết việc làm là 235.000 triệu đồng; năm 2007: 250.000 triệu đồng; năm 2008: 250.000 triệu đồng; năm 2009: 313.000 triệu đồng.

Năm 2006- 2007 tạo việc làm cho hơn 3,2 triệu lao động, ước tính năm 2008 tạo việc làm cho 1,615 triệu lao động (đạt 95% kế hoạch). Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị hàng năm đều giảm (năm 2006: 5,1%; năm 2007: 4,91%, năm 2008: ước đạt 4,9%). Tỷ lệ thiếu việc làm ở nông thôn giảm dần (năm 2006: 5,86%; năm 2007: 5,79%, năm 2008: ước đạt 5,75%).

Nguồn nhân lực Việt Nam chưa đạt yêu cầu và còn yếu so với các nước trong khu vực. Tỷ lệ lao động được đào tạo của nước ta tuy vẫn tăng đều qua các năm nhưng đến nay vẫn chỉ đạt 24% tổng lao động (tỷ lệ tương ứng của các nước trong khu vực là 50%). Tỷ lệ đào tạo lao động có bằng cấp còn thấp (tăng khoảng 7,3%/năm) và chưa tương ứng với nhu cầu lao động có đào tạo cho phát triển kinh tế. Cơ cấu đào tạo theo ngành nghề, theo trình độ còn nhiều bất cập. Chất lượng thấp làm lao động Việt Nam mất thế cạnh tranh, ngay cả ở thị trường lao động nội địa. Với chất lượng nguồn nhân lực như hiện tại, khi hội nhập với thị trường lao động quốc tế, lao động Việt Nam sẽ mất lợi thế và phải chấp nhận nhiều thiệt thòi.

Năng suất lao động của Việt Nam hiện tại còn thấp, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế còn hạn chế. Trong các năm 2006- 2008, năng suất lao động chung của nền kinh tế tăng từ 22,5 lên 26,5 triệu đồng/năm. Trong điều kiện tốc độ tăng trưởng kinh tế trong 2 năm đầu của kế hoạch 2006- 2010 là tương đối khả quan nhưng năng suất lao động của nền kinh tế vẫn không được cải thiện nhiều thì sự chững lại của tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2008 và có thể cả trong một vài năm tiếp theo sẽ còn làm chậm hơn nữa tốc độ tăng của năng suất lao động.

Về xuất khẩu lao động: Trong 10 tháng qua, cả nước đã đưa được khoảng 72.500 lao động đi làm việc ở nước ngoài, đạt khoảng 85,0% kế hoạch năm. Trong khi đó, rất nhiều người chuyển nguyện vọng sang các nước châu Âu, úc, Canada, Mỹ, Hàn Quốc... Chưa bao giờ hoạt động xuất khẩu lao động lại ở trong tình trạng phân hoá thị trường và nguồn lao động mạnh mẽ như hiện nay...

Giải pháp trong thời gian tới

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách về lao động - việc làm: Sửa đổi, bổ sung Bộ Luật Lao động, nghiên cứu xây dựng Luật Việc làm, Luật Tiền lương tối thiểu; xây dựng các văn bản hướng dẫn Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; kịp thời ban hành những chính sách liên quan tới giải quyết việc làm và phát triển thị trường lao động để khuyến khích các doanh nghiệp, các tổ chức trong và ngoài nước đầu tư phát triển sản xuất, tạo thêm nhiều việc làm, đẩy mạnh mở rộng thị trường nhận lao động Việt Nam; Phê chuẩn các công ước và khuyến nghị của tổ chức lao động quốc tế (ILO) về lao động, việc làm và thị trường lao động; các thông lệ quốc tế và cam kết quốc tế liên quan của Việt Nam trong hội nhập...

Thứ hai, hoàn thiện quy hoạch hệ thống Trung tâm giới thiệu việc làm và cấp giấy phép hoạt động giới thiệu việc làm cho các doanh nghiệp giới thiệu việc làm; đầu tư nâng cao năng lực các Trung tâm giới thiệu việc làm.

Thứ ba, có chính sách hỗ trợ người lao động trong quá trình đào tạo và đi xuất khẩu, cũng như nên có chính sách bảo vệ người lao động ở nước ngoài khi họ gặp khó khăn hay bị người quản lý lao động có những hành động không đúng pháp luật.

Thứ tư, xây dựng quỹ bảo vệ và hỗ trợ người lao động ở nước ngoài trên cơ sở đóng góp của các công ty xuất khẩu lao động và người đi lao động nước ngoài theo một tỷ lệ phù hợp. Thành lập hiệp hội bảo vệ quyền lợi người lao động đi xuất khẩu, hoặc nâng cao vai trò của công đoàn trong lĩnh vực này nhằm không để bất cứ người lao động đi xuất khẩu bị thiệt thòi hay bị ngược đãi.

Thứ năm, thành lập Trung tâm quốc gia dự báo và thông tin thị trường lao động nhằm hình thành một hệ thống đồng bộ từ thu thập, xử lý tới phân tích, dự báo, quản lý và cung cấp thông tin thị trường lao động theo các cấp trình độ, các ngành nghề, lĩnh vực, đáp ứng yêu cầu về đào tạo và phát triển kinh tế của các vùng, ngành, các khu công nghiệp.

Thứ sáu, tăng cường kiểm tra, giám sát, quản lý các dự án, hoạt động trong Chương trình trong việc cho vay giải quyết việc làm, đầu tư nâng cao năng lực các Trung tâm giới thiệu việc làm... Phối hợp với các cơ quan liên quan xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật.

Thứ bảy, tập trung bồi dưỡng, nâng cao năng lực của cán bộ làm công tác lao động việc làm. Tiếp tục mở nhiều các lớp tập huấn, chuyển giao kỹ thuật tiến bộ và đào tạo kỹ năng nghề và kỹ năng giao tiếp thực hành cho người lao động để đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của thị trường lao động nước ngoài.

Tám là, đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường lao động thế giới và các nước để từ đó đưa ra các chính sách phù hợp cho việc xuất khẩu lao động sang các nước, tránh để tình trạng phân tán như hiện nay.

Chín là, kiểm soát và giám sát chặt chẽ thị trường xuất khẩu lao động để hạn chế tình trạng lừa đảo hoặc đẩy chi phí xuất khẩu lao động lên quá cao gây thiệt hại và khó khăn cho người có nhu cầu xuất khẩu lao động./.

SOURCE: TẠP CHÍ KINH TẾ VÀ DỰ BÁO SỐ 24 (440) THÁNG 12/2008

Thứ Ba, 5 tháng 5, 2009

BÀN LUẬN VỀ NỀN KINH TẾ GIA GIA CÔNG Ở VIỆT NAM

1. GÁNH NẶNG CỦA NỀN KINH TẾ GIA CÔNG

Ts. Vũ Quang Việt

Cần nhìn nhận lại thực chất của nền kinh tế tăng trưởng nhờ xuất khẩu của ta. Cái đạt được hiện nay có thể gọi là một nền kinh tế gia công, khác hẳn nền kinh tế công xưởng của Trung Quốc. Và cần phải thoát khỏi nó.

    Tăng trưởng tùy thuộc xuất khẩu

    Trong một bài viết ngày 8/2/2009, tôi cho rằng GDP Việt Nam năm 2009 chắc chỉ tăng 3-4%. Đấy là dựa trên dự đoán về xuất khẩu giảm 15%, sau khi theo dõi tỷ suất xuất khẩu giảm mạnh khoảng 25% cho toàn khu vực châu Á. Sau đó đầu tháng tư Tổng cục Thống kê công bố GDP quí I chỉ tăng 3,1%. Điều này phù hợp với cái nhìn của tôi.

    Thống kê xuất khẩu quí I, sau khi loại giá trị xuất khẩu vàng, cũng cho thấy xuất khẩu Việt Nam giảm 15%. Khi tính lại tương đối cẩn thận hơn trong bài viết mới đăng trên Kinh tế Sài Gòn, nếu xuất khẩu giảm 15% (tính theo giá cố định) cả năm, thì GDP Việt Nam khó tăng hơn 3-4%.

    Nhóm kinh tế gia của Thời báo Economist cho rằng GDP không tăng năm 2009 vì họ dự đoán xuất khẩu giảm 30%. IMF dự báo GDP Việt Nam tăng 4,8% vì cho rằng xuất khẩu giảm 15% (tính theo giá hiện tại), tức là giảm ít hơn 15% tính theo giá cố định. Điều này nói lên rằng dự báo tăng trưởng tùy thuộc rất nhiều vào dự báo xuất khẩu.

    Do nền kinh tế quá phụ thuộc vào xuất khẩu, (xuất khẩu bằng 70% GDP), tệ hơn nó còn phụ thuộc vào nhập khẩu ở mức độ cao hơn, lên tới hơn 90% GDP, nên khả năng tăng xuất khẩu là yếu tố quyết định tốc độ tăng GDP.

    Điều đáng quan tâm không chỉ là tỷ lệ tăng GDP, thậm chí nó chưa phải là điều đáng lo bằng tỷ lệ nhập siêu ngày càng tăng “chóng mặt”. Đây chính là một trong những chỉ số nói lên rằng nền kinh tế ta hoàn toàn không bền vững. Tỷ lệ nhập siêu ở mức trên 5% đã là tỷ lệ báo động. Nhưng ở Việt Nam tỷ lệ này đã ở mức 25%.

Tỷ lệ nhập siêu so với GDP

2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
-2% -2% -5% -8% -8% -5% -5% -13% -25%

    Chạy theo tăng trưởng

    Cái may là cuộc khủng hoảng năm 2008 do chính sách chạy theo chỉ số tăng GDP tạo ra và bây giờ là khủng hoảng kinh tế thế giới đã khiến chính phủ phải tạm đình lại chính sách chạy theo chỉ tiêu này.

    Đình lại để đánh giá một cách rốt ráo về chính sách trong quá khứ, để xem xét thấu đáo về chính sách cho tương lai có phải là điều đang được thực hiện không thì tôi không thể biết. Rõ ràng, ít nhất từ năm 2002 ta sống khá vì dòng vốn nước ngoài đổ vào. Càng quyết chạy theo chỉ tiêu tăng GDP cao càng đẩy nền kinh tế lún vào nhập siêu.

    May mắn là dòng vốn mới chỉ đổ vào Việt Nam có mức độ. Nếu đổ vào nhiều và kéo dài thì vừa qua khó tránh được cuộc khủng hoảng lớn và sâu rộng hơn nhiều.

    Nếu các nhà làm chính sách chỉ thấy màu hồng của dòng vốn nước ngoài và không thấy nguy cơ vừa nói này thì đó là điều đáng trách. 

    Làm sao thoát khỏi tình trạng các con số nhập siêu ngày càng tăng lên như trên là điều mà các nhà chính sách cần tự hỏi?

    Thoát khỏi kinh tế gia công

    Chúng ta cần nhìn nhận lại thực chất của nền kinh tế tăng trưởng nhờ xuất khẩu của ta. Lúc đầu vì quá lạc hậu và ở mức thiếu đói nên mở ra được là tốt. Nhưng tính từ ngày Đổi mới thực sự từ năm 1989, chính sách kiểu này đã kéo dài 20 năm rồi.

    Cái đạt được hiện nay có thể gọi là một nền kinh tế gia công, khác hẳn nền kinh tế công xưởng của Trung Quốc. Và cần phải thoát khỏi nó.

    Nền kinh tế công xưởng là nền kinh tế dựa vào xuất khẩu, nhưng là điểm tựa để phát triển là cái mà ta gọi là công nghệ phụ trợ. Từ nhu cầu của nước ngoài, nông nghiệp và công nghiệp nội địa phát triển nhằm sản xuất ra vật tư, kể cả máy móc để phục vụ công xưởng xuất khẩu. Nó là đầu tàu tạo phát triển công nghiệp và công nghệ nội địa, và tạo công ăn việc làm. Nền kinh tế đó có xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu, do đó tạo thêm vốn và dự trữ ngoại tệ lớn. Dự trữ ngoại tệ của nền kinh tế công xưởng Trung Quốc hiện nay lên tới khoảng 2000 ngàn tỷ USD.

    Nền kinh tế gia công như của ta hiện nay thì khác hẳn. Nó hoàn toàn phụ thuộc vào nước ngoài và tổ chức nhằm phục vụ nhu cầu của nước ngoài. Nó không những phải nhập khẩu nguyên vật liệu mà còn có thể lại phải mượn tiền để xây dựng nhà máy, bằng cách bán khoáng sản và vay mượn để có ngoại tệ.

    Do dựa vào dòng vốn nước ngoài, lại cố chạy theo tốc độ, nó dễ trở thành bãi rác công nghiệp, nhập công nghệ lạc hậu ô nhiễm môi trường mà nước khác thải ra. Nhưng vì phải phục vụ dòng vốn đó, ta phải xây hạ tầng cơ sở: giao thông vận tải, điện nước, vì thế, suất đầu tư cho một đơn vị sản phẩm rất cao.

    Hệ quả của nền kinh tế gia công

    Xin nói rõ thêm:

Thứ nhất, nền kinh tế gia công dễ trở thành bãi rác cho công nghệ lạc hậu. Nó nhập khẩu máy móc lạc hậu nước khác thải ra, và tự trả giá cho ô nhiễm và phá hoại môi trường mà những công nghiệp lạc hậu này gây ra.

    Tình hình này đã đến mức báo động ở Việt Nam. Cho đến nay có nhiều người đặt vấn đề phải tính để trừ đi khỏi GDP chi phí bỏ ra để xử lý những tiêu cực này. Nhưng thật ra, hầu hết các nước kể cả các nước giàu chỉ nói về GDP xanh cho vui là chính, vì đo đạc chúng không đơn giản chút nào.

    Có lần Hàn Quốc muốn cộng tác với văn phòng Liên Hợp Quốc dựa vào mô hình tôi phát triển để tính ảnh hưởng môi trường, nhưng rồi bỏ cuộc vì không có đủ số liệu và quá tốn kém cho một cục Thống kê bỏ tiền thu thập số liệu cần thiết.

    Vấn đề chỉ có thể giải quyết khi chính quyền có ý thức cao về ô nhiễm, về tàn phá môi trường, và sẵn sàng áp dụng luật xử lý những người vi phạm. 

    Đòi hỏi chính quyền có ý thức cao cũng chẳng khác gì nằm chờ sung rụng vào miệng. Nếu vẫn để các nhóm lợp ích gây áp lực, mua chuộc chính quyền hoặc vẫn vin cớ tránh tăng giá thành, giảm lợi nhuận do đó, làm giảm sức hút đầu tư, tạo công ăn việc làm ở địa phương thì mục tiêu đó không thể đạt.

    Đã đến lúc cộng đồng nhân dân bị ảnh hưởng phải dùng luật pháp để hành động bảo vệ mình.

    Vấn đề ô nhiễm do công ty Vedan gây ra và hàng loạt các vụ việc khác vẫn chưa được giải quyết. Chắc dân hai thành phố Hà Nội và Tp. HCM bị một tổ chức quốc tế đánh giá là 2 trong 20 thành phố tệ nhất thế giới về môi trường sống phải nghĩ gì chứ?

Thứ hai, nền kinh tế gia công lại đòi hỏi đầu tư về hạ tầng cơ sở rất lớn. Để phục vụ nền kinh tế gia công hay nền kinh tế công xưởng, thì ngoài đầu tư về máy móc, nhà xưởng, nền kinh tế, dù loại nào, cũng lại phải tự bỏ tiền rất lớn như nhau đầu tư vào hạ tầng để phục vụ việc sản xuất và phân phối ra cùng một sản phẩm.

    Do đó mà nền kinh tế gia công đòi hỏi quá nhiều đầu tư cho một giá trị gia tăng - cái tạo thành GDP (vì cùng một giá trị sản phẩm thì giá trị gia tăng của sản phẩm gia công rất thấp, nhiều trường hợp chỉ bằng 5-10% giá trị sản phẩm).

    Điều này cũng giải thích là tại sao tỷ số phát tán ảnh hưởng (multiplier) khi tăng cầu trong nền kinh tế Việt Nam chỉ có 1,07 (tức là bỏ ra đầu tư 1 đồng thì chỉ tạo ra được 1,07 đồng) so với các nước khác có thể tạo ra đến 1,50 đồng. Tính phát tán ít như vậy vì cái gì cũng phải nhập khẩu.

    Đây cũng là lý do mà tỷ lệ ICOR, tức là tỷ lệ đầu tư trên tỷ lệ tăng GDP (tính theo giá cố định), ở Việt Nam có vẻ ngày càng tăng, và vượt hẳn các nước khác. Nếu so với tỷ lệ 3,9 ở Trung Quốc hay 3,0 ở Hàn Quốc, thì để làm ra một đồng sản phẩm, Việt Nam phải đầu tư hơn 80% so với Hàn Quốc và hơn 40% so với Trung Quốc.

    Chỉ số ICOR chỉ là một cách tính, chính xác và tốt hơn là phải đo lường xem tốc độ phát triển có nguồn gốc từ yếu tố sản xuất nào.

Chỉ số ICOR của Việt Nam, 2001-2007 

  2005 2006 2007
ICOR ratios 4.85 5.04 5.38

    Nguồn: Dựa vào số liệu của Tổng cục Thống kê

    Có một anh bạn vừa tính đại khái (vì số liệu của Việt Nam không được xây dựng đầy đủ) là phát triển của Việt Nam là do đầu tư xây dựng tràn lan, chứ không phải vì năng suất. Năng suất từ công nghệ và quản lý gần như không đóng góp gì cho phát triển. 77% của tốc độ tăng GDP là vì do tăng đầu tư, và 19% là do tăng lao động. Tức là một nền kinh tế tăng trưởng kiểu “lấy thịt đè người”. 
    Chính vì thế mà tỷ lệ tích lũy của Việt Nam đã lên đến 41,6% GDP, một tỷ lệ cao nhất thế giới. Cần phải thấy là giới nghiên cứu lịch sử phát triển kinh tế thế giới đã cho là nền kinh tế có thể đi vào cất cánh nếu như tỷ lệ tích lũy là 25% GDP.

2. “GIẢI OAN” CHO KINH TẾ GIA CÔNG

Đoàn Tiểu Long

Bẫy gia công
Lâu nay vẫn có ý kiến cho rằng Việt Nam bị rơi vào “bẫy gia công”, rằng gia công chỉ là bán mồ hôi với giá rẻ mạt, công đoạn gia công là công đoạn tạo ra “giá trị gia tăng” thấp nhất trong chuỗi giá trị, và vì thế cần chấm dứt chuyện này càng sớm càng tốt.

Mới đây trên Thời báo kinh tế Sài Gòn Online đã có cuộc tranh luận xung quanh vấn đề này. Một bạn đọc sau khi tham gia cuộc trao đổi đã kết luận: Không phải vì làm gia công nên Việt Nam nghèo, thu nhập của anh chị em công nhân thấp, mà trái lại, chính vì Việt Nam còn nghèo, lương công nhân thấp nên mới được (phải) gia công. Nếu Việt Nam mà giàu, nhân công đắt đỏ thì chắc hẳn không ai dám thuê gia công như hiện giờ! Đó là một kết luận rất xác đáng.

Xem xét kỹ vấn đề gia công, có thể thấy, kinh tế gia công là xu hướng của kinh tế toàn cầu?

Trong bài “Gánh nặng của nền kinh tế gia công”, Ts Vũ Quang Việt so sánh kinh tế Việt Nam - gọi là kinh tế gia công, với kinh tế Trung Quốc - gọi là kinh tế công xưởng, để từ đó khuyến nghị Việt Nam nên thoát khỏi phận gia công càng nhanh càng tốt.

Theo người viết, so sánh như thế không hợp lý lắm. Trung Quốc, Mỹ, Nga là vài quốc gia hiếm hoi đất rộng người đông, tài nguyên phong phú, nên họ có thể tiến hành nền kinh tế công xưởng trong một số lĩnh vực nào đó. Không nên và cũng không thể lấy họ làm đối tượng để so sánh với các nền kinh tế khác.

Trên thực tế, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đang làm gia công, chứ không riêng gì Việt Nam. Đó là xu hướng của nền kinh tế toàn cầu hóa. Rất khó tìm ra một nước nào đó tự mình làm hết mọi công đoạn sản xuất các sản phẩm hoàn chỉnh. Mỗi nước chỉ thực hiện một công đoạn nhất định, và đó chính là gia công.

Nếu Việt Nam nhập linh kiện điện tử từ Thái Lan, có nghĩa là Thái Lan đang gia công linh kiện, còn Việt Nam thực hiện công đoạn lắp ráp.

Kể cả các nước phát triển như Đức, Nhật cũng vậy. Hoặc sản xuất linh kiện, hoặc lắp ráp từ linh kiện do các nước khác sản xuất. Chiếc Mercedes-Benz “made in Germany” thực chất được lắp ráp từ linh kiện do hàng ngàn nhà máy tại khắp các nước trên thế giới cung cấp.

Như thế bản thân việc gia công không những không chứng tỏ mức độ phát triển thấp của Việt Nam, mà trái lại, nó chứng tỏ kinh tế Việt Nam đã hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu. Không thể cho rằng như thế là Việt Nam quá phụ thuộc vào xuất nhập khẩu, rằng đây là khuyết điểm cần khắc phục để kinh tế Việt Nam “cất cánh”.

Trong một bài trên Tuần Việt Nam, người viết có nhận định rằng để xét xem nền kinh tế phụ thuộc vào thị trường nước ngoài ở mức nào thì không nên nhìn vào kim ngạch xuất khẩu, mà phải nhìn vào con số GDP do khu vực sản xuất hàng xuất khẩu tạo ra trong tổng GDP của toàn nền kinh tế.

Kim ngạch xuất nhập khẩu chỉ thể hiện mức độ gắn kết của kinh tế trong nước với kinh tế thế giới, còn tỷ trọng GDP của khu vực sản xuất xuất khẩu trong tổng GDP của toàn bộ nền kinh tế quốc dân thể hiện mức độ phụ thuộc của nền kinh tế quốc dân vào thị trường nước ngoài. Gắn kết và phụ thuộc mang những ý nghĩa khác nhau.

Theo đó, nền kinh tế Việt Nam hiện thời chưa thể nói là phụ thuộc quá mức vào thị trường xuất khẩu được.
Với thời gian, nền kinh tế Việt Nam sẽ ngày càng gắn với kinh tế thế giới như một thành phần hữu cơ (biểu hiện qua kim ngạch xuất nhập khẩu, cũng như tỷ trọng GDP của khu vực sản xuất hàng xuất khẩu trong tổng GDP của toàn nền kinh tế, ngày một tăng), nhưng đó là một xu thế không thể đảo ngược, chứ tuyệt nhiên không phải là cái gì đó yếu kém cần ngăn chặn hay từ bỏ.

Kinh tế gia công tiến bộ hơn kinh tế công xưởng

Trong kinh tế học có 2 khái niệm na ná nhau: Economies of scale và economies of scope. Hai khái niệm này không có gì mới mẻ, chúng đã được K. Marx phân tích kỹ lưỡng trong tác phẩm “Tư bản” từ lâu.

Nguyên tắc economies of scale (sản xuất số lượng càng lớn thì giá thành càng giảm) là nguyên nhân chính dẫn đến hình thức phân công lao động quốc tế, trong đó mỗi nước chỉ tham gia vào một công đoạn nào đó, sản xuất với số lượng lớn, cung cấp cho các nước khác – tức là nền kinh tế gia công quy mô toàn cầu.

Chính vì thế tham vọng tự mình bao trọn gói mọi công đoạn sản xuất là hoàn toàn phi kinh tế. Nó may ra chỉ có thể áp dụng ở một vài nước cá biệt như Trung Quốc, Mỹ, Nga mà thôi. Điều này cũng lý giải vì sao công nghiệp phụ trợ của Việt Nam rất khó phát triển.

Về mặt kinh tế, việc tự mình làm lấy tất, hay chỉ thực hiện một số công đoạn nào đó, thì không ảnh hưởng đến lượng giá trị mới được tạo ra.

Lấy ví dụ ngành dệt may. Giả dụ ngành này gồm 4 công đoạn, gồm trồng bông, dệt vải, sản xuất phụ kiện, may quần áo. Mỗi công đoạn cần một số lượng nhân công nhất định, tổng cộng là 1 triệu công nhân chẳng hạn. Lao động của họ tạo ra lượng giá trị mới cho nền kinh tế.

1 triệu công nhân chia làm 4 công đoạn, hay 1 triệu công nhân chỉ chuyên may quần áo, thì đều tạo ra lượng giá trị mới như nhau. Thành ra không phải cứ tham lam ôm đồm hết mọi việc thì sẽ tạo ra nhiều giá trị mới hơn. Thậm chí là trái lại: do nguyên tắc economies of scale nói trên, cho nên nếu chỉ tập trung chuyên môn hóa vào một hai khâu nào đó, thì suất đầu tư sẽ thấp hơn, năng suất sẽ cao hơn và chi phí sẽ thấp hơn so với việc xé lẻ ra mỗi khâu làm một ít.

Nguyên tắc economies of scope có nghĩa là quy mô nhà máy càng lớn thì chi phí trên mỗi sản phẩm càng giảm.
Ví dụ một nhà máy may đang sử dụng 1,000 công  nhân, với sản lượng 1 triệu bộ quần áo/ năm. Nếu họ muốn tăng sản lượng thêm 20%, thì họ cần tăng số công nhân và dây chuyền may thêm 20%, nhưng nhiều thứ khác không cần tăng thêm tương ứng, ví dụ hệ thống giao thông nội bộ, bảo vệ, kế toán, văn phòng... Do đó suất đầu tư và chi phí trên mỗi sản phẩm giảm đi. Đó là lợi thế của nhà máy lớn so với nhà máy nhỏ.

Nhưng nếu họ muốn sử dụng số 20% công nhân tăng thêm đó vào việc khác, ví dụ dệt vải, thì họ sẽ phải xây thêm nhà máy dệt. Rõ ràng làm theo cách này suất đầu tư sẽ cao hơn rất nhiều so với cách mở rộng công đoạn may, trong khi giá trị mới được tạo ra là như nhau trong cả hai trường hợp.

Chính hai nguyên tắc này đã quyết định xu hướng phân công lao động theo hình thức gia công ở tầm toàn cầu.

Về hệ quả của nền kinh tế gia công

Nếu tự mình làm lấy hết mọi việc thì có thể giảm nhập khẩu. Tuy nhiên việc giảm này không ảnh hưởng gì tới cán cân thương mại; tức là không phải vì thế mà giảm nhập siêu.

Việt Nam nhập siêu không phải vì gia công, còn Trung Quốc có thặng dư thương mại không phải vì họ có nền kinh tế công xưởng.

Có thể lý giải thế này. Nếu ta dùng 1 triệu công nhân chỉ chuyên gia công, do đó cần nhập 10 tỷ USD nguyên vật liệu, sau đó xuất khẩu thành phẩm được 11 tỷ USD, tạo ra giá trị mới là 1 tỷ USD, thì cán cân thương mại cũng không khác gì trường hợp ta không nhập khẩu chút nào, 1 triệu công nhân được xé lẻ thành nhiều công đoạn, tự làm lấy tất và xuất khẩu lượng hàng hóa trị giá 1 tỷ USD.

Cần lưu ý là trong cả hai trường hợp, nếu cùng sử dụng một số lượng lao động như nhau, thì giá trị mới tạo ra đều là 1 tỷ USD, dù kim ngạch xuất nhập khẩu rất khác nhau.

Việt Nam bị nhập siêu vì là nước nghèo, mới bắt đầu công nghiệp hóa. Để công nghiệp hóa thì phải xây dựng hệ thống hạ tầng. Muốn thế thì cần có tiền. Việt Nam không có tiền nên phải vay nước ngoài, sau đó dùng tiền này nhập khẩu máy móc, vật tư để xây dựng hạ tầng cơ sở. Mà hạ tầng cơ sở lại là những thứ không trực tiếp làm ra hàng hóa xuất khẩu để cân bằng lại cán cân thương mại, do đó mà có nhập siêu.

Trung Quốc người đông, tài nguyên phong phú, căn bản chỉ dùng nội lực để xây dựng cơ sở hạ tầng nên tránh được vay nợ và nhập siêu.

Nguy cơ biến thành bãi thải công nghệ rác

Kinh tế gia công không nhất thiết biến đất nước thành bãi thải công nghệ. Việc công nghệ nào được sử dụng - công nghệ cao hay công nghệ thấp – là do hiệu quả kinh tế quyết định, và không phải lúc nào sử dụng công nghệ cao cũng có hiệu quả hơn dùng công nghệ thấp.
Thường là trái lại, ở những nước nghèo như Việt Nam thì dùng công nghệ thấp lại có hiệu quả kinh tế và tạo việc làm cao hơn công nghệ cao. (Xem: VN: Cuộc quyết đấu giữa công nghệ nguồn và công nghệ rác).
Nếu công nghệ tiêu tốn nhiều năng lượng hoặc gây ô nhiễm chui được vào nước ta, thì đó không phải là tội của nền kinh tế gia công, mà là do sơ hở trong quản lý, hoặc ai đó vì lợi ích cá nhân đã nhắm mắt làm lơ.

Nếu cứ như thế, thì dù có chuyển sang nền kinh tế công xưởng hay gì gì đi chăng nữa cũng chẳng có gì đảm bảo là sẽ khá hơn.

Hiệu quả đầu tư

Ở những nước mới bắt đầu công nghiệp hóa thì dĩ nhiên phải đầu tư rất lớn cho cơ sở hạ tầng, bất kể đó là nền kinh tế gia công hay kinh tế công xưởng hay cái gì khác. Hệ số ICOR vì thế mà có cao thì cũng chẳng có gì đáng lạ. Vài chục năm nữa, khi tỷ trọng đầu tư vào cơ sở hạ tầng giảm dần thì hệ số ICOR sẽ giảm theo.

ICOR cao hay thấp không phụ thuộc vào kinh tế gia công hay công xưởng, nên không thể coi là hệ quả của các nền kinh tế đó. Nói chung cần thận trọng khi sử dụng con số ICOR để đánh giá.

Kinh tế gia công là thủ phạm khiến công nhân khốn khó?

Thường có quan điểm cho rằng nền kinh tế gia công là nền kinh tế thâm dụng lao động, lương trả cho công nhân chỉ đủ sống ở mức tằn tiện... Theo người viết, nhận định như vậy là đã lộn ngược vấn đề, lấy nguyên nhân làm hệ quả.

Về bản chất, gia công không đương nhiên đồng nghĩa với thâm dụng lao động. Mức độ thâm dụng lao động phụ thuộc vào giá nhân công của nước sở tại ở mỗi giai đoạn nhất định.

Nếu Việt Nam thuê doanh nghiệp Đức sản xuất linh kiện xe hơi, hoặc lắp ráp hàng điện tử, họ sẽ dùng công nghệ hiện đại đòi hỏi rất ít lao động sống. Đó là do nhân công của Đức đắt đỏ, nên dùng máy móc sẽ có lợi hơn.

Với các nước nghèo như Việt Nam thì ngược lại, dùng lao động sống có lợi hơn dùng máy móc. Do nhân công ở đây rẻ nên các nước khác chủ động giao công đoạn đòi hỏi nhiều sức lao động cho các nước này thực hiện. Như thế giá lao động rẻ là cái có trước, còn cách thức gia công thâm dụng lao động là cái có sau. Nhưng người ta rất hay bị hiện tượng đánh lừa, cứ nghĩ rằng gia công là thâm dụng lao động.

Do có thể trả lương thấp, lại do cạnh tranh nên các doanh nghiệp giảm giá gia công tới mức tối thiểu, miễn sao đạt mức lợi nhuận trung bình. Điều này khiến người ta tưởng lầm rằng vì giá gia công thấp mà lương công nhân thấp.

Nếu quả thực tiền lương phụ thuộc vào giá gia công, thì giá gia công do cái gì quyết định? Tại sao phía nước ngoài không thể ép giá gia công xuống đến sát mặt đất, mà chỉ có thể xuống đến một “ngưỡng kháng cự” nào đó? “Ngưỡng kháng cự” này chính là do giá lao động quyết định. Thành ra, vu cho gia công là thủ phạm khiến lương công nhân thấp là rất sai.

Gia công có công hay tội?

Gia công không gây ra nhập siêu, không biến đất nước thành bãi thải công nghệ, không phải là thủ phạm khiến chị em công nhân sống khốn khó..., vậy tại sao lại đi hắt hủi nó?

Nhiều người nghĩ rằng công đoạn may, hay lắp ráp sản phẩm cuối cùng, tạo ra “giá trị gia tăng” thấp, cần chuyển sang công đoạn khác có “giá trị gia tăng” cao hơn. 
Ví dụ như thiết kế mẫu mã chẳng hạn. Họ quên rằng, thứ nhất, nữ công nhân may không thể hô biến là thành chuyên gia thiết kế được; và thứ hai, nếu hàng trăm ngàn công nhân bỗng chốc biến thành chuyên gia thiết kế hết, thì cũng chẳng có ai cung cấp đủ đơn hàng cho hàng trăm ngàn chuyên gia đó. E rằng lúc đó giá thiết kế còn thấp hơn đơn giá may quần áo!

Nhìn một cách thực tế, đừng để những ám ảnh về “cất cánh”, “hóa rồng hóa hổ” chi phối, thì con đường phát triển của Việt Nam có thể hình dung như sau:

Khu vực nông nghiệp nói chung chỉ cần vài ba % số lao động là đủ đảm trách (ví dụ ở Mỹ là 1%). Việt Nam có tới 70% dân số sống ở nông thôn, tức là mỗi người nông dân chỉ sử dụng 1/10 năng lực của mình, còn phần lớn thời gian là thất nghiệp. Do đó mà nghèo.

Cứ mỗi người lao động ly nông và chuyển sang khu vực phi nông nghiệp thì sản lượng nông nghiệp không vì thế mà giảm đi, trong khi một lượng giá trị mới lại được tạo ra trong khu vực công nghiệp, dịch vụ, bổ sung vào GDP của đất nước. Nền kinh tế nhờ đó phát triển, đất nước giàu dần lên.

Quá trình này sẽ còn tiếp diễn cho đến khi số lao động trong khu vực nông nghiệp chỉ còn chiếm vài %, kéo theo thu nhập đầu người của nông dân tăng lên cả chục lần so với hiện nay.

Quá trình đó đòi hỏi vốn đầu tư; vốn đầu tư tạo ra phương tiện sản xuất (nhà xưởng, máy móc, nguyên liệu...) để người lao động có thể sử dụng sức lao động của mình và tạo ra giá trị mới.

Với những nước bắt đầu quá trình công nghiệp hóa như Việt Nam thì phát triển phải dựa trên vốn đầu tư và lao động là điều đương nhiên, không có gì đáng gọi là phát triển kiểu “lấy thịt đè người” cả.

Hơn nữa, đây là con đường hợp lý, vì nó tạo ra việc làm, giảm thất nghiệp ở nông thôn, chuyển đổi cơ cấu lao động, giải quyết đồng thời cả vấn đề kinh tế lẫn xã hội. Dư địa cho cách thức phát triển kiểu này của Việt Nam còn rất lớn, không như những ý kiến cho rằng Việt Nam đã đến lúc chấm dứt phát triển dựa trên đầu tư và lao động. Việc sử dụng vốn đầu tư sao cho hiệu quả lại là chuyện khác, không nên lẫn lộn.

Thoạt tiên, những người lao động mới chân ướt chân ráo từ đồng quê tìm tới các khu công nghiệp kiếm việc làm, họ sẵn sàng nhận đồng lương rất thấp - dù sao vẫn cao hơn so với thu nhập ở quê. Hơn nữa, mức sống chung của Việt Nam lúc đó cũng còn thấp, nên lương như thế là chấp nhận được.

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, mức sống trung bình được nâng lên, người công nhân bắt đầu không chấp nhận mức lương như cũ. Họ yêu sách đòi tăng lương, đình công này nọ. Cứ sau mỗi dịp Tết là các doanh nghiệp lại đau đầu với vấn đề nhân sự. Giới chủ buộc phải nhượng bộ, tăng lương cho công nhân. Cứ như thế tiền lương của công nhân tăng dần lên.

Nhân công dần đắt đỏ buộc chủ doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ sang loại tiên tiến, ít thâm dụng lao động hơn, đồng thời không chấp nhận giá gia công rẻ mạt như trước nữa. Các nước khác do đó bớt cơ hội lợi dụng được nguồn nhân công rẻ của Việt Nam so với trước.

Quá trình đó cứ thế tiếp diễn, dẫn tới công nghệ ngày một hiện đại hơn, lương công nhân ngày một cao hơn, việc gia công dần chuyển sang những công đoạn ít thâm dụng lao động hơn, giá gia công cao hơn.

Quá trình này diễn ra từ từ, kéo dài hàng chục năm. Bản thân các nước phát triển cũng phải mất hàng trăm năm mới được như ngày nay.

Những trường hợp hóa rồng sau một thời gian ngắn như Hàn Quốc, Đài Loan là hết sức hãn hữu.
Giáo sư Trần Văn Thọ, trong lúc nghiên cứu sự phát triển của các nền kinh tế thế giới từ sau Thế chiến II tới nay, đã rất ngạc nhiên khi phát hiện ra là trong số 150 nước kém phát triển lúc đó, chỉ có Hàn Quốc và Đài Loan đạt được tiến bộ vượt bậc (không tính Hồng Kông và Singapore vì đây là hai thành phố đặc thù).

Nói vậy không phải để tự an ủi bản thân, làm thui chột ý chí phấn đấu, mà để có cái nhìn thực tế hơn đối với sự phát triển của đất nước.

Tóm lại, có lẽ không nên đổ oan rằng gia công chính là nguyên nhân gây ra những yếu kém mà kinh tế Việt Nam đang mắc phải.

3. NỀN KINH TẾ GIA CÔNG QUA BỨC TRANH DOANH NGHIỆP

Trần Sỹ Nguyên - TGĐ công ty Cổ phần Hoàng Gia Việt Nam

Căn nguyên

Dường như, mỗi khi nền kinh tế có vấn đề, chúng ta mới đi tìm ra nguyên nhân và giải pháp. Và điều này luôn lặp đi lặp lại trong mấy chục năm phát triển vừa qua, kể cả giai đoạn Đổi mới.

Thế giới đã phát triển một cách mạnh mẽ trong hơn nửa thế kỷ qua. Trước mỗi giai đoạn phát triển mới họ đều dựa trên một số học thuyết và các học thuyết đó luôn được nghiên cứu bổ sung để đáp ứng được các nhu cầu phát triển của xã hội và tránh được các vấn đề làm chậm sự phát triển kinh tế hoặc gây đổ vỡ trong nền kinh tế.

Thế giới cũng đã có rất nhiều bài học điều hành nền kinh tế để các nước đi sau có thể học tập.

Trong khi đó, chúng ta hình như đang thiếu cả học thuyết và kinh nghiệm trong điều hành và phát triển nền kinh tế.

Chúng ta có thể lí giải căn nguyên của nền kinh tế gia công Việt Nam như sau.

Một là, chúng ta tiến hành phát triển kinh tế và từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới khi các nước phát triển đã bước vào thời kỳ hậu công nghiệp. Nói cách khác, điểm xuất phát của nước ta rất thấp, vẫn là một nước nông nghiệp lạc hậu.

Một số nước cũng hội nhập cùng thời gian với Việt Nam, nhưng họ hội nhập trên nền tảng của một xã hội đã phát triển hơn chúng ta rất nhiều dựa trên các chỉ tiêu: Chỉ số phát triển con người, GDP bình quân đầu người, hạ tầng kỹ thuật…

Hai là, chúng ta tiến hành từng bước hội nhập, hội nhập một cách chắc chắn đến mức, trên một phương diện nào đó, ở một khía cạnh nào đó chúng ta sợ thất bại. Có lúc, chúng ta đã thiếu đi những quyết sách khó khăn tại những thời điểm quan trọng. Thay vì cải cách mạnh mẽ và quyết liệt thì ta lại làm khá chậm và thiếu đồng bộ giữa các bộ, ngành, và nhiều lĩnh vực.

Hai nguyên nhân trên đã dẫn đến một số các hệ luỵ kinh tế là chúng ta có một nền kinh tế méo mó mà Ts Vũ Quang Việt trong một bài viết gần đây gọi là nền kinh tế gia công.

Bùng nhùng

Cụ thể, quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước diễn ra chậm, làm giảm sút khả năng phát triển nền kinh tế và sự cạnh tranh của doanh nghiệp.

Bên cạnh đó là những vấn đề:
- Trong hệ thống nhân sự của công ty, phát sinh bè cánh…, sự bổ nhiệm các vị trí quan trọng như quản lý cấp trung và cấp cao của doanh nghiệp yếu tố năng lực của mỗi cá nhân đã bị các yếu tố cản đường.

- Người đứng đầu doanh nghiệp xuất hiện tư duy nhiệm kỳ, miễn sao các hoạt động sản xuất không quá tồi.

- Người lãnh đạo công ty không dám đưa ra và không thể đưa ra quyết định khó khăn để mang lại cơ hội đột phá cho doanh nghiệp bởi các yếu tố bè cánh, sự đồng thuận trong ban lãnh đạo, trách nhiệm và lợi ích không tương song.

Điều này có tác động rất tiêu cực đến đầu tư và lựa chọn các lĩnh vực đầu tư. Các doanh nghiệp đã đầu tư thiếu chiều sâu đặc biệt là chiều sâu về nhân lực, điều này dẫn đến đưa ra chiến lược kinh doanh, chiến lược tiếp cận thị trường, nghiên cứu sản phẩm mới một cách hạn chế, không phát huy được các tiềm năng. Chiến lược kinh doanh thường rất ngắn hạn.

Một ví dụ điển hình về ngành dệt may: Ngành này đã có một chiều dày thời gian phát triển. Nhưng trong một chuỗi giá trị sản phẩm thì chúng ta mới chỉ đóng góp vào việc gia công theo mẫu có sẵn, nguyên phụ liệu do các nhà xuất khẩu nước ngoài cung cấp, phần lớn các công ty trong nước chỉ tham gia là sức lao động của công nhân.

Các mắt xích trong chuỗi giá trị tạo ra nhiều giá trị gia tăng hơn là lưu thông, sản xuất nguyên phụ liệu…thì chỉ rất ít các công ty có thể tham gia hoạt động

Các hạn chế của doanh nghiệp Nhà nước dẫn đến các lãnh đạo công ty sẽ đầu tư vào những sản phẩm hoặc tham gia các mắt xích trong chuỗi giá trị đơn giản nhất, thâm dụng nhiều lao động, hàm lượng chất xám ít.

Trong khi đó, khu vực doanh nghiệp tư nhân (đại đa số là doanh nghiệp vừa và nhỏ) phần nhiều là các doanh nghiệp non trẻ bị thu hẹp sân chơi do không có được các lợi thế như doanh nghiệp Nhà nước về khả năng tiếp cận vốn, quy mô… dẫn đến doanh nghiệp tư nhân cũng không đủ năng lực đầu tư chiều sâu về nhân lực, tích tụ đủ vốn để đầu tư về công nghệ để sản xuất mặt hàng có giá trị gia tăng cao.

Chỉ có một số ít doanh nghiệp sở hữu tư nhân vượt qua được hạn chế về tích tụ vốn và nhân lực để vươn lên tham gia vào các lĩnh vực có giá trị gia tăng cao như cơ khí ô tô Xuân Kiên, cà phê Trung Nguyên, Hoà Phát, Hoàng Anh Gia Lai…Nhưng nếu tính trong tổng GDP thì các doanh nghiệp này vẫn còn rất hiếm hoi.

Giải pháp

Có thể tạm nêu ra một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp giúp nền kinh tế thoát khỏi nền kinh tế gia công.

Một là, cải cách triệt để vấn đề sở hữu: Cần cổ phần hoá 100% doanh nghiệp Nhà nước theo một nguyên tắc Nhà nước quản lý thông qua công cụ luật pháp; Nhà nước chỉ sở hữu các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực an ninh quốc phòng và phúc lợi xã hội một cách có chọn lọc. Các doanh nghiệp đều bình đẳng về cơ hội.

Hai là, cải cách giáo dục: Việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế đòi hỏi ngành giáo dục phải đổi mới mạnh mẽ hơn:

- Xã hội hoá giáo dục ở tất cả các cấp học;

- Tiến hành tự chủ tài chính và các hoạt động, nội dung môn học của các trường đại học công;

- Khuyến khích các trường đại học nước ngoài mở trường đại học tại Việt Nam và các loại hình đại học khác.

SOURCE: CIVILLAWINFOR TỔNG HỢP TỪ TUANVIETNAM.NET

Chủ Nhật, 3 tháng 5, 2009

XÃ HỘI DÂN SỰ, TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM

NGUYỄN NGỌC GIAO

Tổ chức bầu cử chỉ cần 6 tháng, lập nên một nền kinh tế thị trường thì một năm, còn muốn tạo ra một xã hội dân chủ phải cả một thế hệ. Mà không có xã hội dân sự thì không thể có dân chủ.

Ralf Dahrendorf

Trong câu chuyện nổi tiếng của Lewis Carroll, Alice ở Xứ Thần Tiên, có con mèo Cheshire. Đó là con mèo ảo, khi hiện ra khi biến mất, sắc sắc không không. Nó lại có đặc điểm là thường hay mở miệng cười. Đặc biệt là có khi nó mất dạng, nhưng nụ cười của nó vẫn còn đó. Khiến cho cô bé Alice, một người ít khi ngạc nhiên vì bất cứ cái gì, kể cả những điều nghịch lí nhất, cũng phải kinh ngạc thốt lên: “Tôi từng thấy những con mèo không cười, chứ chưa bao giờ thấy cái cười không mèo”. Nhà Trung Quốc học người Pháp Yves Chevrier[1] đã nhắc tới con mèo Cheshire khi ông bàn tới “xã hội dân sự” ở Trung Quốc, hay đúng hơn, khi ông nghiên cứu những bước truân chuyên lao tâm khổ tứ của những nhà Trung Quốc học khi họ đi tìm “xã hội dân sự” ở Trung Quốc, cổ đại và hiện đại, để rồi rốt cuộc hình như không đi xa hơn cuộc tranh luận nảy lửa: có thể “áp đặt” khái niệm “Tây phương” là “societas civilis” vào việc nghiên cứu một nước phương Đông là Trung Quốc hay không?

Có nhà nghiên cứu còn viện dẫn G. W. F. Hegel, nhà triết học nghe nói đã viết ở đâu đó rằng Trung Quốc là một Nhà nước không có xã hội.[2] Chẳng biết, chẳng hiểu gì về Hegel, nhưng nghe câu nói động trời ấy, tôi vội gõ vào cái cửa thích đáng nhất là địa chỉ email của người đã dịch Hiện tượng học tinh thần.[3] Được trả lời: câu ấy không thấy trong văn bản, không có trong mấy chục trang Hegel viết về phương Đông, cụ thể trong Các bài giảng về Lịch sử triết học (tập I) và Các bài giảng về triết học Lịch sử. Nó phản ánh phần nào cái nhìn của Hegel về Trung Quốc và Ấn Độ, nhưng câu chữ như vậy, nếu có, thì không “hê-ghê-liên” chút nào, vì đối với Hegel, “Nhà nước” cao hơn “xã hội”.

Nhưng thôi, chuyện Hegel, chúng ta lát nữa sẽ đề cập. Xin trở lại “con mèo Cheshire” và cái “cười” của nó. Trước khi xem ở Trung Quốc và Việt Nam có mèo, có  mèo cười hay mèo không cười, có cười có mèo hay không mèo, chúng ta hãy làm công việc “chính danh”: thử định nghĩa “xã hội dân sự”, và rất nhanh chóng, chúng ta sẽ thấy nó là một mớ bòng bong khá rối rắm, nó là A và là không-A, nó được giá và mất giá, nó đáng sợ, đáng nghi và nó rất cần, “không có nó thì không có dân chủ” ; tóm lại, muốn gỡ mối bòng bong ấy, để biết chúng ta bàn về cái gì, thì trước hết, xin điểm qua lịch sử của cụm từ “xã hội dân sự”. Sau đó, chúng ta sẽ xét tới số phận của cụm từ ấy ở “phương Đông” là Trung Quốc và Việt Nam, và từ đó, bàn qua thực trạng và triển vọng của bản thân xã hội dân sự ở đó.

Lịch sử một cụm từ - khái niệm

Cụm từ “civil society” / “société civile” mãi đến thế kỉ 17 mới xuất hiện trong các văn bản tiếng Anh, tiếng Pháp, nhưng “nguyên bản” bằng tiếng Latinh của nó, “societas civilis”, đã được Cicéron sử dụng  từ thời Cổ La Mã, với một nội dung tương đương với  cụm từ Hi Lạp koinōnia politikē. Trong thời cổ đại và trung cổ, cái xã hội được gọi là civilis ấy chính là xã hội con người được tổ chức thành Nhà nước, nó hầu như đồng nhất với khái niệm Nhà nước, civilis được hiểu với hai nghĩa: một là nó văn minh / civilisé, đối nghịch với trật tự tự nhiên, hoang dại, tức là nó có pháp luật, có lễ độ ; hai là công dân, người tham gia trực tiếp vào sinh hoạt dân chủ của thành quốc – tất nhiên, tại thành quốc Athènes, cái nôi của nền dân chủ ấy, số công dân chỉ là một thiếu số nhỏ bé, vì trong đó không có đàn bà, không có nô lệ, không có mê-téc μετοίκος / metoikos nghĩa là “người ngoài”, những người “ngụ cư” (chắc cũng không có... Việt kiều luôn).

Như vậy là cho đến thế kỉ 17 ở châu Âu, khái niệm “xã hội civilis” hầu như đồng nhất với khái niệm xã hội được tổ chức về mặt chính trị, nghĩa là Nhà nước. Nhưng bản thân nó đã mang mầm mống của sự phân hoá và mâu thuẫn: bởi vì trong xã hội châu Âu thời Trung Cổ và Phục hưng, quyền lực chính trị được chia sẻ giữa hai đối tác: Giáo hội và Quân vương (le Prince). Một hay hai? Một thành hai, hai thành một? Vấn đề lại càng trở nên phức tạp và gay cấn vì xuất hiện hai tay phá đám. Một là Luther phủ nhận vai trò của linh mục – người trung gian giữa tín đồ và Thượng đế – phản đối vai trò cồng kềnh, sa hoa của Giáo hội. Với quan niệm Tin Lành, mỗi cá nhân tín đồ trở thành những cá nhân thực thụ, không còn nấp bóng áo chùng của linh mục (người chăn linh hồn) được nữa, mà phải tự chăn phần hồn của mình, cá nhân trở thành cô độc một cách kinh khủng – và chính những còn người cô độc kinh khủng ấy sẽ gặp nhau trong các cuộc “town meetings” mà Alexis de Tocqueville đã mô tả trong tác phẩm Bàn về nền dân chủ ở Mĩ. Sau Luther (và Calvin nữa, tất nhiên), người phá đám thứ nhì là giai cấp tư sản thương nhân, sẽ nhân danh “xã hội dân sự” để đòi hỏi quyền tự trị đối với chính quyền (quân chủ) và thần quyền (của giáo hội).

Thế là từ đây trở đi, “xã hội civilis” sẽ phải tự định nghĩa, tự định vị đối với bộ ba: thần quyền, chính quyền và kinh tế quyền (trong một số trường hợp, với cả quân quyền nữa...)

Đối với Thomas Hobbes (1588-1679) – người được coi là đã tạo ra cụm từ này -- “civil society” còn gần như đồng nghĩa với Nhà nước, với một khác biệt đáng kể: xã hội “civil” là một kiến tạo tự nguyện của các cá nhân thành viên nhằm mực đích bảo đảm trật tự và an lạc. Tiếp theo Hobbes, Samuel von Pufendorf (1632-1694) phân biệt xã hội «civis”, tức là xã hội của những công dân, với “xã hội của những Kitô-hữu” (tức là Giáo hội), cũng như với “xã hội” nghĩa là tập hợp đơn thuần, tự nhiên của những cá nhân, không do một thoả ước tập thể nhằm kiến lập một quyên lực chung. Với John Locke (1632-1704), xã hội “civil” không chỉ có mục đích là bảo đảm an ninh và an lạc nữa mà “cứu cánh chủ yếu của nó là duy trì tư hữu” (Of political or civil society). Đi xa hơn nữa, Jean-Jacques Rousseau (1712-1778) tách biệt Nhà nước và xã hội dân sự, Nhà nước là quyền lực chính trị, xã hội dân sự là nơi chốn của quyền tư hữu: “kẻ đầu tiên dựng nên hàng rào quanh mảnh đất và nói: đất này là của tôi... kẻ đó là người sáng lập xã hội dân sự” (Discours sur l’origine et les fondements de l’inégalité parmi les hommes, phần hai, câu đầu). Không đi vào chi tiết quan điểm của Rousseau, tôi chỉ xin nhấn mạnh trên một ý: Như ta biết, Rousseau chủ trương “khế ước xã hội”, nhưng cũng rất cảnh giác với “văn minh”, “tiến bộ”, chống lại sự ngự trị của “luật về tư hữu và bất bình đẳng”, chống lại tình trạng mà luật pháp mang lại “những cản trở mới cho kẻ yếu và những sức mạnh mới cho kẻ giàu”.

Cuối thế kỉ 18, trong khi nhóm Bách khoa toàn thư của Diderot d’Alembert vẫn còn gần như đồng nhất Nhà nước và xã hội “civil” và thu hẹp xã hội “civil” vào một kích thước là kích thước chính trị, Adam Smith quan niệm khác hẳn: tuy không dùng cụm từ “civil society” mà chỉ nói đến “nation” (dân tộc) hay “society” (xã hội), và định nghĩa nó là xã hội của trao đổi thương mại, một cơ chế trong đó các quyền lợi tư tự chúng hài hoà với nhau, không cần phải do ý muốn chủ đích của các cá nhân. Với Smith, từ nay xã hội “dân sự” tách biệt hẳn với Nhà nước mà “bổn phận” chỉ còn là đảm nhiệm ba chức năng: bảo đảm an ninh đối ngoại, giữ gìn trật tự quốc nội, và “bảo trì một số công trình công cộng” khi mà tư nhân không đảm đương được (The Wealth of Nations).

Bước sang thế kỉ 19, nảy sinh hai quan niệm về xã hội dân sự. Một quan niệm “phóng khoáng [4]”, khẳng định sự “tự lập” của nó đối với Nhà nước: đó là quan niệm của bộ Dân luật (1804) Pháp cũng như trong tác phẩm của Benjamin Constant (1767-1830). Quan niệm kia là quan niệm của Hegel, rồi của Marx, dựa trên hai đặc trưng của xã hội dân sự phái sinh từ cuối thế kỉ trước: xã hội kinh tế và xã hội xung đột.

Quan niệm “phóng khoáng” về xã hội dân sự trong bộ Code civil / Luật dân sự của Pháp (1804), trong một ý nghĩa nào đó, là một sự sửa sai đối với Cách mạng Pháp 1789. Thật vậy, “xã hội dân sự” hoàn toán vắng bóng trong bản Tuyên ngôn nhân quyềnvà các bản Hiến pháp của Cách mạng Pháp, cũng như trong các bài viết của Robespierre, Saint-Just, Sieyès. Đối với các nhà lãnh đạo “cứng rắn” của Cách mạng tư sản, chỉ có một bên là “xã hội hiện thực, chia năm xẻ bảy và đa nguyên”, và một bên là “dân tộc”, là “quốc gia”, “một” và là “tất cả”. “Xã hội dân sự” không những bị triệt tiêu trong văn bản, mà trên thực tế:  đạo luật Le Chapelier (14-16.07.1791) đã giải tán tất cả các phường hội. Tôi mở ngoặc nói về giai đoạn này, coi đó như một tiền lệ của Cách mạng tháng Mười Nga, và của quan niệm bôn-sê-vich. Sự triệt tiêu xã hội dân sự ở Nga từ sau 1917, ngày nay, 90 năm sau, Cộng hoà Liên bang Nga vẫn còn phải trả giá trong công cuộc xây dựng dân chủ. Số phận tương tự cũng dành cho xã hội dân sự tại các nước “xã hội chủ nghĩa” ra đời sau Thế chiến lần thứ nhì.

Với bộ Luật dân sự, “xã hội dân sự” được thiết lập và vận hành theo pháp luật. Dân luật (code civil) và Công luật (droit public) trở nên nền tảng để tách biệt xã hội dân sự và Nhà Nước, cái “dân sự” và cái “chính trị”, lãnh vực tư (sphère privée) và lãnh vực công (sphère publique). Benjamin Constant, nhà lí luận của quan niệm này, “đòi duyền tự do dân sự cùng một lúc với các dạng thức khác của quyền tự do chính trị”, và định nghĩa tự do dân sự là “sự thụ hưởng an nhiên của sự độc lập cá nhân” (De la liberté chez les Modernes). Điều cần nhấn mạnh ở Constant, là ông chủ trương sự cân đối mà không đối lập giữa xã hội dân sự và Nhà nước, ông không hề đòi giảm nhẹ vai trò của Nhà nước (như hiện nay những người “liberal cực đoan” đang làm để tư nhân hoá – hay “xã hội hoá”?!!! – những dịch vụ công cộng), mà cho rằng Nhà nước và xã hội dân sự bổ sung nhau: vấn đề không phải là dựng nên những rào cản giả tạo để ngăn ngừa sự can thiệp của Nhà nước vào xã hội dân sự, mà là tạo điều kiện để xã hội dân sự tự tổ chức. Đối với Constant, một Nhà nước hùng cường giả định một xã hội dân sự mạnh mẽ ; vấn đề không phải là hi sinh tự do dân sự để có tự do chính trị hay ngược lại, mà phải “kết hợp cả hai”.

Nói kết hợp, nghĩa là thừa nhận sự dị biệt, và có thể xung đột giữa Nhà nước và xã hội dân sự. Làm sao hoà giải được Nhà nước và xã hội dân sự? Đó là bài toán mà Hegel tìm cách giải quyết trong Nguyên lí triết học luật pháp. Có thể nói không ngoa là với Hegel và Marx, khái niệm “xã hội dân sự” hiện đại mới thực sự được định hình và triển khai. Không thể nói dài, nhưng cũng không thể nói ngắn, và càng không thể nói dở và nói sai, tôi xin tóm tắt ở dưới đây, một vài ý chính đã được anh Bùi Văn Nam Sơn giảng cho tôi trong một lá thư riêng – tất nhiên tôi xin chịu trách nhiệm về mọi sai lầm tất nhiên mắc phải trong việc hiểu và nói lại như vậy:

* Trước tiên, Hegel phân biệt xã hội tiền – hiện đạixã hội hiện đại. Xã hội tiền hiện đại có 2 đặc điểm:

- con người bị chìm đắm trong cái Bản thể (xã hội) và bị cai trị một cách trực tiếp, không có sự trung giới.

- chỉ có sự phân biệt giữa “xã hội” tự nhiên và riêng tư của gia đình với “xã hội” công cộng và nhân tạo của nhà nước chính trị.

Trong một trật tự xã hội như thế, không có chỗ cho những cá nhân hoạt động với tư cách là những “personnes” và những “chủ thể” sử dụng sự tự do lựa chọn của mình để theo đuổi những mục đích riêng và phát triển tính cá nhân độc đáo của mình trong vũ đài công cộng rộng hơn của đời sống xã hội.

Còn trong xã hội hiện đại:

-    Con người hiện đại hiểu chính mình như là personnes có quyền tự do lựa chọn trong lĩnh vực ngày càng rộng rãi. Lĩnh vực này bắt đầu với thân thể của mình, rồi mở rộng ra thành những gì được gọi là “tài sản cá nhân” (Triết học pháp quyền, §§45-47). Với Hegel, hình thức chính đáng duy nhất của tài sản được xã hội hiện đại thừa nhận là sự tư hữu (nt, §46).

-    Con người hiện đại còn hiểu chính mình như là những chủ thể mang lại ý nghĩa cho cuộc đời thông qua những lựa chọn của mình. Chủ thể đòi hỏi một lối sống tự chủ, xem hành động của mình là kết quả của sự lựa chọn chứ không phải của tập quán hay của sự cưỡng chế xã hội. Ðiều này cần có cấu trúc xã hội mà Hegel gọi là “sự tự do chủ quan” (nt, §224).

-    Thoạt nhìn, có vẻ giống với quan niệm của Liberalisme classique, nhưng chỗ khác cơ bản là: với Hegel, “personne” và “chủ thể” chỉ là những sự trừu tượng; tự chúng không đủ để mang lại nội dung cho quyền con người hay nghĩa vụ luân lý. Trong hình thức trừu tượng ấy, chúng sẽ dẫn đến “tinh thần cá nhân nguyên tử” tách rời con người với nhau và với đời sống xã hội. Nếu nhà nước chính trị chỉ được quan niệm như là kẻ bảo vệ quyền của “personne”, thì nhà nước không tránh khỏi trở thành một sức mạnh trừu tượng đối lập lại cá nhân với chức năng duy nhất là giám sát và cưỡng chế. Nếu nhà nước chỉ có chức năng “cảnh sát”, nó sẽ bị quy giản thành “nhà nước cảnh sát”, trở nên thù địch với con người. Vậy, pháp quyền và luân lý chỉ phát triển trong một hệ thống bảo đảm sự tự do và hạnh phúc của cá nhân trong những vai trò nhất định được xã hội thừa nhận. Hệ thống ấy Hegel gọi là “đời sống hay trật tự đạo đức” (Sittlichkeit/ordre ou vie éthique). Vậy, trong xã hội hiện đại, quyền và hạnh phúc cá nhân đã có được vị trí chính đáng độc lập với lợi ích của toàn bộ xã hội. Việc theo đuổi lợi ích của toàn bộ xã hội này đòi hỏi một loại định chế xã hội mới mẻ, trong đó sự tham gia của cá nhân trong đời sống xã hội phải được trung giới thông qua ý chí tự do lựa chọn của cá nhân và phải diễn đạt được ý kiến chủ quan của cá nhân (Sđd, §206). Hegel gọi định chế xã hội mới mẻ ấy là “bürgerliche Gesellschaft (viết tắt BG) / société civile, vì xã hội ấy bao gồm những“Bürger”. Chữ Bürger có cả hai nghĩa: citoyenbourgeois. Hegel nhấn mạnh: ông hiểu theo nghĩa sau: bourgeois (nt, §190).

Vì thế, BG không phải là một lĩnh vực tự nhiên hình thành từ việc những cá nhân theo đuổi những ham muốn riêng tư bằng cách tham gia vào thị trường. Cách hiểu đơn thuần kinh tế này về BG bị Hegel gọi là “cộng đồng thú vật mang tính tinh thần” (Hiện tượng học Tinh thần, §§339 và tiếp). Mục đích của BG không chỉ để thoả mãn nhu cầu và ham muốn mà để tự - hiện thực hoá cá nhân. “Nhân vị cụ thể” (konkrete Person) chỉ là nguyên tắc thứ nhất của BG, cần được bổ sung bằng nguyên tắc thứ hai: “hình thức của tính phổ biến” (Triết học pháp quyền, §182). Như thế, sự phân tích của Hegel về BG bao hàm cả việc xem xét các hình thức của sự đoàn kết hay liên đới xã hội, qua đó cá nhân tự quan hệ với những mục đích phổ biến của Nhà nước (nt, §§230-56). BG làxã hội đích thực (wahre Gesellschaft / vraie société) trong đó cá nhân có được những bản sắc xã hội nhất định, phát triển các mối quan tâm đạo đức đến hạnh phúc của những người khác cũng như chia sẻ những mục đích tập thể. Chức năng sâu xa của việc phân công lao động không chỉ là để nâng cao năng suất mà còn mang lại lối sống nhất định, được BG thừa nhận. Khi thuộc về một “tầng lớp” hay “giai cấp” (Stand), cá nhân có được một lối sống nhất định, một phẩm giá được những người khác thừa nhận, và có thước đo khách quan cho giá trị của bản thân. Vì thế, Hegel đề nghị BG phải được tổ chức thành những “hiệp hội”, tạo ra “tinh thần hội đoàn”, “tinh thần liên đới”. Ðiều này không chỉ mang lại sự cố kết của tầng lớp mà còn hướng tới những mục tiêu chung, làm cho cá nhân là thành viên của một “xã hội phổ biến”. Bằng cách ấy, “lĩnh vực của BG chuyển hóa thành Nhà nước” (Sđd, §256).

Hiểu như thế, lý luận của Hegel đã mặc nhiên chứa đựng các đặc điểm chủ yếu của Marx khi phân tích chủ nghĩa tư bản hiện đại. Hegel là người đầu tiên phân biệt “BG” (hay lĩnh vực “kinh tế” theo nghĩa rộng) với gia đình và Nhà nước. Marx cho rằng quan niệm này đã cung cấp chìa khóa cho chủ nghĩa duy vật lịch sử: cấu trúc và sự thay đổi của BG là yếu tố quyết định cho việc chuyển hóa lịch sử nói chung. Hegel đã đi trước Marx khi nhận ra rằng thị trường chỉ là vẻ ngoài của các cấu trúc xã hội sâu xa hơn mà các mục đích cơ bản của chúng là có tính tập thể hơn là cá nhân. Tất nhiên, Hegel xem cấu trúc bề sâu ấy là một cơ chế hài hoà giữa các giai cấp, trong khi Marx xem đó là miếng đất tranh chấp và bùng nổ của cuộc đấu tranh giai cấp. (Hegel cũng dùng quan niệm “giai cấp” để mô tả sự xung đột trong BG, chỉ khác với Marx ở chỗ: Hegel xem tầng lớp “dân đen” là không có năng lực hành động tập thể và hầu như bị loại khỏi “trật tự đạo đức”, ngược lại với quan niệm của Marx về “giai cấp vô sản”).[5]

Ðiểm mấu chốt là: Hegel xem BG là miếng đất hiện thực để xây dựng nên “Nhà nước chính trị” hài hoà; ngược lại, Marx muốn cải biến BG để xóa bỏ xung đột giai cấp, bấy giờ sẽ thủ tiêu luôn Nhà nước, bởi Nhà nước chỉ là “thượng tầng kiến trúc”. Hegel và Marx đều xuất phát từ tiền - giả định về sự “trong suốt” trong nhận thức về xã hội. Với Hegel, sự tự do chủ quan (tính chủ thể tự giác) là điều kiện để đi tới sự trong suốt, nhưng điều này chỉ đạt được nơi “triết gia” khi hồi cố về sự phát triển lịch sử. Với Marx, “sự trong suốt” là ảo tưởng trong mọi giai đoạn lịch sử trước đây. Chỉ khi con người không còn phục tùng sự phân chia giai cấp, thì mới có sự tự do đích thực, nghĩa là khi đời sống chung trong BG trở thành “ý chí của những cá nhân hợp nhất”. Tự do ấy, một khi đạt được, sẽ bền vững: cách mạng vô sản sẽ không phải là sự kết thúc của lịch sử mà chỉ là sự cáo chung của thời “tiền sử” của con người”!

Nói tới xã hội dân sự mà Marx coi là “hạ tầng cơ sở”, không thể không nói tới ý kiến của Antonio Gramsci.[6] Đối với nhà mac-xit Ý, Nhà nước (tư sản) không chỉ mạnh nhờ bộ máy trấn áp, mà còn nhờ sự bá quyền tư tưởng của nó, thông qua những định chế trong đời sống hàng ngày của xã hội dân sự (hội đoàn, giáo hội, trường học...), những định chế mà sau này, Bộ phận ấy, Gramsci xêp vào “thượng tầng kiến trúc”, Louis Althusser gọi là “bộ máy tư tưởng của Nhà nước” (appareils idéologiques d’Etat). Khái niệm này đáng chú ý, nhất là trong giai đoạn toàn cầu hoá với những phương tiện truyền thống toàn năng.

Như thế, ta đứng trước hai mô hình (Hegel và Marx)! Các lý thuyết hiện đại về xã hội dân sự dường như đều là các cách phản ứng trước hai mô hình này. Nếu thấy cả hai mô hình đều có mặt không tưởng (hoang tưởng?!), nếu thấy BG ngày càng trở thành quyền lực kinh tế lũng đoạn (thể hiện cực đoan trong quan niệm của Hayek chẳng hạn…), còn viễn tượng “nhà nước tiêu vong” là xa vời, thì chỉ còn cách… tự vệ của người “công dân”! Trong vô số lý luận hiện nay về xã hội dân sự, tôi thấy đáng lưu ý là quan niệm của J. Habermas về cái gọi là “deliberative Demokratie / deliberative Politik” (nền dân chủ tham vấn?). Ðó là sự quyết định bằng thảo luận chứ không bằng mệnh lệnh. Khác với lý luận về định chế của khoa chính trị học, Habermas tập trung vào vai trò công luận của công dân. Bên cạnh hai nguồn lực cố hữu của xã hội là sức mạnh kinh tế và quyền lực chính trị, ông muốn xây dựng nguồn lực thứ ba: sự đoàn kết, liên đới, hình thành từ sự truyền thông của quần chúng. Chính chất lượng lập luận trong tiến trình này sẽ mang yếu tố “lý tính” vào trong tiến trình chính trị vốn chỉ dựa trên các sự thoả hiệp về lợi ích. Qua đó, hệ thống chính trị không còn là đỉnh caotrung tâm của xã hội (kiểu Hegel) mà chỉ là một hệ thống hành vi truyền thông bên cạnh các hệ thống khác. Vị trí và tính chất của nền “dân chủ tham vấn” vừa khác với mô hình dân chủ pháp quyền - tự do (dựa trên những thỏa hiệp về lợi ích riêng) lẫn với mô hình cộng hòa nhân dân (dựa trên sức mạnh tự tổ chức của quần chúng được chính trị hoá). Nói cách khác, bên cạnh khu vực của thị trường và của nhà nước, Habermas chủ trương xây dựng khu vực của xã hội công dân (Bürgergesellschaft / Zivilgesellschaft). Nghĩa là, khác với chủ nghĩa tự do xây dựng trên xã hội dân sự (Bürgerliche Gesellschaft / Civil Society), Habermas đề nghị xây dựng nền “dân chủ tham vấn” trên xã hội công dân (Bürgergesellschaft / Citizen Society) [7]

 
Nguồn lực Hệ thống Khu vực
Quyền lực cai trị hành chính Bộ máy chính trị Nhà nước (hệ thống chính trị)
Quyền lực kinh tế (tiền) Hệ thống hành vi kinh tế Thị trường (xã hội dân sự)
Quyền lực truyền thông (sự đoàn kết, liên đới, tin cậy…) Mạng lưới truyền thông công cộng Xã hội-công dân (công luận)

Phương Đông nhìn từ Iena

Tại sao Hegel có thể cho rằng ở Trung Quốc, ở Phương Đông nói chung, không có “xã hội” hay “xã hội dân sự”?

Trong hai tác phẩm kể tên ở đầu bài, nhà triết học ở Iena có một số câu đoạn nói về phương Đông, Trung Hoa và Ấn Độ, và nói một cách không mấy quan tâm tới “quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc”. Có những nhận định có thể nói là võ đoán, cường điệu, nhưng có những điều đáng làm ta suy nghĩ. Dưới đây, xin trích dẫn một vài đoạn.

Trong Các bài giảng về Lịch sử triết học (tập I):

Con người [phương đông] sống trong sự khiếp sợ, hay nói cách khác, con người thống trị con người bằng sự khiếp sợ: cả hai đứng cùng ở một cấp độ. (...). Ông vua chuyên chế thực hiện những sáng kiến của mình, có khi cả điều tốt, nhưng không phải như là pháp luật mà như là sự tuỳ tiện của mình.”

“Sự tự do ở phương Đông, Hy Lạp và thế giới Germain có thể xác định một cách sơ sài trong các sự trừu tượng hoá sau đây: ở phương Đông chỉ có một người duy nhất là tự do (ông vua chuyên chế) ; ở Hy Lạp, một số người là tự do, còn trong đời sống Germain, câu nói sau đây có hiệu lực: tất cả mọi người đều tự do, nghĩa là, con người là tự do với tư cách là con người. Nhưng, ở phương Đông, một con người duy nhất cũng không thể là tự do, vì muốn tự do thì những người khác cũng phải tự do, nên ở đó chỉ là sự ham muốn, sự tuỳ tiện, sự tự do hình thức, sự bình đẳng trừu tượng của Tự - ý thức (Tôi=Tôi)”…

Trong Các bài giảng về triết học Lịch sử:

Người Trung Quốc xem mình là thuộc về gia đình và đồng thời như là những đứa con của Nhà nước. Trong bản thân gia đình, họ không phải là những “nhân vị” (Personen), bởi sự thống nhất bản thể ở đây là sự thống nhất của huyết thống và của tính tự nhiên. Trong Nhà nước, họ cũng không phải là những “nhân vị”, vì quan hệ thống trị ở đây là quan hệ gia trưởng, và chính quyền dựa trên việc thực thi sự chăm lo của vua đối với dân như của cha đối với con… để giữ mọi việc trong vòng trật tự”…

Nền tảng gia đình cũng là nền tảng của “hiến pháp”, nếu có thể dùng một từ như thế. Vì, tuy ông vua có quyền của một vị quân chủ đứng đầu toàn bộ nhà nước nhưng ông ta lại thực thi quyền của mình theo cách của một người cha đối với con cái của mình. Ông ta là gia trưởng (…) và đồng thời cũng là thủ lĩnh của tôn giáo và của khoa học.  Vua là gia trưởng, còn thần dân là con cái không ra khỏi vòng luân lý gia đình, không tạo nên được sự tự do độc lập của người công dân, khiến toàn bộ nhà nước biến thành một vương quốc, một sự cai trị và lề thói chỉ có tính luân lý, nghĩa là, chỉ có tính giác tính (verständig / entendement) chứ không có lý tính tự do và sự tưởng tượng”.

Ở Trung Quốc, sự khác biệt giữa nô lệ và tự do tất nhiên là không lớn, bởi trước mặt hoàng đế, tất cả đều bình đẳng, nghĩa là, đều bị giáng cấp như nhau”.

Trung Quốc, Việt Nam ngày nay

Nếu còn sống, chắc Hegel sẽ không khỏi ngạc nhiên trước cảnh tượng Trung Quốc và Việt Nam ngày nay – ít nhất khi ông đọc những số liệu về tổ chức hội đoàn, một trong những chỉ dấu để đo sức sống của xã hội dân sự.

Đó là những con số hoành tráng:

* tại Trung Quốc, theo ước tính chính thức thì năm 2005, có khoảng 300 000 tổ chức phi chính quyền (NGO), thêm vào đó là 120 000 tổ chức mà Hán ngữ gọi là “dân biện phi xí nghiệp đơn vị” (民办非企业), tức là những tổ chức không có quy chế hội đoàn đăng kí ở Bộ nội vụ mà là “đơn vị” đăng kí ở Bộ Công thương, hoạt động vô vị lợi... Bên cạnh số đó, có vô số hội đoàn “tự phát”, không có tư cách pháp nhân, không được thừa nhận. Theo một ước tính của các NGO, tổng số những hội đoàn đủ loại này có thể lên tới 3 triệu.[8]

* tại Việt Nam “đến nay, có 320 hội hoạt động trong phạm vi toàn quốc và hơn 2.150 hội hoạt động trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cùng hàng nghìn hội ở các cơ sở. Các hội cũng rất đa dạng: có hội do tổ chức thành lập, có hội do cá nhân, doanh nghiệp, có hội có cơ cấu tổ chức chặt chẽ nhưng có hội lại lỏng lẻo… Với sự đa dạng như thế, Chủ tịch Hội Đông y Việt Nam Nguyễn Xuân Hướng (đại biểu Hà Tĩnh) đã dí dỏm ví, dân gian có câu ‘đông như hội’” [9].

Ấn tượng hơn nữa là những chỉ số về sự tham gia: “Ở Việt Nam, trung bình mỗi người là thành viên của 2,33 tổ chức, cao hơn nhiều nếu so với những nước trong khu vực châu Á, như Trung Quốc (0,39) và Singapore (0,86). Theo khảo sát này, tỷ lệ những người thuộc ít nhất một tổ chức là 73,5%, một tỉ lệ tương đối cao” [10].

Tất nhiên, các con số không nói lên thực chất vấn đề. Nếu trong thập niên 1980, sau cuộc đại cải cách 1979 của ông Đặng Tiểu Bình, ở Trung Quốc đã nở rộ những tổ chức NGO, về kinh tế, xã hội, kể cả những viện nghiên cứu độc lập (dân biện nghiên cứu sở) – nổi tiếng nhất là trung tâm của Trần Tự Minh (Chen Zimin, nhà nghiên cứu triết học)[11] – thì sau sự kiện Thiên An Môn (1989), chính quyền ban hành Quy chế đăng kí và quản lí các đoàn thể xã hội (tháng 10.1989), rồi 10 năm sau: Quy chế tạm thời về đăng kí và quản lí các đơn vị nhân dân phi thương mại, theo đó các NGO phải đăng kí tại Bộ dân sự vụ và đặt dưới sự chủ quản của một cơ quan chính quyền hay tương đương. Cơ quan chủ quản này thường được gọi là “mẹ chồng”, “mẹ chồng” có quyền và nhiệm vụ coi chừng “con dâu”. Thực chất mà nói, đó không phải là những NGO mà là GONGO (Government Organized Non Governmental Organisations): những “tổ chức phi chính quyền do chính quyền tổ chức”. Theo quy định, mỗi NGO được phép hoạt động trong một lãnh vực nhất định và trong phạm vi một đơn vị hành chính nhất định, nó không được phép hoạt động ra khỏi khu vực địa lí đó, và trong phạm vị một đơn vị hành chính đó, không thể có hai NGO được phép hoạt động trong cùng một lãnh vực. Phí đăng kí cũng rất “lụa”: 30 000 nhân dân tệ. Nói như nhiều tác giả, “xã hội dân sự” ở Trung Quốc thực chất vẫn là “xã hội dân sự do Nhà nước lãnh đạo”.

Có lẽ về cơ bản, giữa hai “xã hội dân sự” Trung Quốc và Việt Nam, cũng mặc nhiên có một mối quan hệ “16 chữ vàng”. Ở Việt Nam, bộ luật về hội đoàn vẫn chưa được thông qua. Dự án vẫn duy trì chế độ “mẹ chồng con dâu” mà ta gọi là “cơ quan chủ quản”. 

Đây là vấn đề cốt lõi, vì nó liên quan tới thực chất quan niệm về tổ chức xã hội dân sự: đó là những tổ chức tự lập của xã hội dân sự, của công dân, hay chỉ là tổ chức để chính quyền “nắm” từng bộ phận nhân dân, và nếu vậy, ở thời đại hiện nay, nó chỉ có thể là môt tổ chức có trên giấy tờ. Chỉ cần nêu ra hai thí dụ: những cuộc gặp gỡ xuân thu nhị kì giữa đại biểu Quốc hội với “đại diện” cử tri (ít nhất các đại biểu quốc hội cũng đã được bầu ra, còn các “đại diện” cử tri thì chỉ được ai đó chỉ định), và việc từ nhiều năm nay, chưa hề có một cuộc đình công nào do công đoàn khởi xướng hay chủ trương.

Nhân đây, cũng xin mở dấu ngoặc, tuy không ra ngoài đề: Là một “Việt kiều”,[12] tôi không thể không bàng hoàng khi được đọc Chỉ thị số 19/2008/CT-TTg của Thủ tướng về “VỀ VIỆC TIẾP TỤC TĂNG CƯỜNG TRIỂN KHAI THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ VỀ CÔNG TÁC VỚI NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI” (ngày 08.06.2008). Văn bản này xác nhận một lần nữa các nhiệm vụ của Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài từ nay là một tổng cục, trong đó có nhiệm vụ này: “d) Chỉ đạo các cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài tiến hành tổ chức, thành lập các hội đoàn người Việt Nam ở địa bàn có thể triển khai được, định hướng và phát triển các hoạt động của hội đoàn người Việt Nam ở nước ngoài nhằm củng cố sự ổn định lâu dài tại chỗ, cùng nhau đoàn kết hướng về Tổ quốc. Danh sách ban chấp hành hội cần được Bộ Ngoại giao (Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài ) thẩm định và ra quyết định chuẩn y trên cơ sở giới thiệu của các hội và cơ quan đại diện ngoại giao tại địa bàn”[13]

Hegel vẫn có thể ngủ yên trên quan niệm của ông về “phương Đông”.

Càng dễ ngủ yên vì ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam, ba chữ NGO đã từng bị đồng hoá với âm mưu “diễn biến hoà bình”,đối trọng và/hay độc lập được ghép thành một chữ là đối lập, nhẹ nhất là “rách việc”...  Cách đây chưa đầy 15 năm, cuốn Từ điển Xã hội học trong đó lần đầu tiên, thuật ngữ Xã hội dân sự được định nghĩa một cách hoàn chính, tác giả của nó, nhà nghiên cứu Nguyễn Kiến Giang, còn phải mượn tên của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện.

Hơn mười năm đã trôi qua, xã hội công dân, rồi xã hội dân sự xuất hiện trên báo chí, có bài còn nói lên tại sao có người sợ nó... Trên các cuốn sách, bìa 1 vẫn mang tên Nhà xuất bản, còn tên của “Công ti X” hay “Trung tâm Y” mà ai cũng biết mới thực là người xuất bản, mới chỉ ở bìa 4 – đôi lần nó leo lên bìa 1 nhưng đã bị huýt còi ngay. Tương tự, “ trên thực tế, hiện nay đã hình thành rất nhiều các tổ chức xã hội dân sự như các hội, các ngành kinh tế, các lĩnh vực khoa học và công nghệ, các lĩnh vực dịch vụ. Sự thực, một khuôn mặt xã hội dân sự kiểu mới ở nước ta đang hình thành, có thể coi đó là bước tiến của nền dân chủ, khác về bản chất với xã hội trước đổi mới. Tuy vậy, về mặt thể chế, phạm trù xã hội dân sự chưa được xác định trong văn bản, tức là chưa dám đặt viên gạch thứ ba (là xã hội dân sự) tạo cơ sở đầy đủ cho mối quan hệ thể chế kinh tế chính trị nước ta.”[14] (viên gạch thứ ba: hai viên gạch đầu là kinh tế thị trường và Nhà nước pháp quyền).

Có thể tác giả hơi lạc quan. Nhưng không hẳn: ngày 23.07.08, ông Theodore Huang, chủ tịch Hội Công Thương Quốc Gia của Đài Loan kêu gọi chính quyền Việt Nam phải “xử lý” các cuộc đình công ngày càng gia tăng. Ông Hoàng nói: “Kinh tế không phải là vấn để lớn ở Việt Nam, vì tư bản nước ngoài sẽ tới (đầu tư). Khó khăn thực sự là làn sóng đình công” [15]. Ta đừng trách ông Hoàng coi nhẹ vấn đề lạm phát, đầu tư, pháp chế đầu tư... Ta cũng không cần biết ông ta hiểu chữ “xử lý” là như thế nào. Chắc ông không nghĩ tới phương pháp xử lý của Phác Chung Hy hay cha con họ Tưởng ở Nam Hàn và Đài Loan cách đây 20 năm. Chính quyền xử lí ra sao là chuyện của chính quyền. Chỉ biết đó trước hết là việc của công đoàn: Tổng công đoàn Việt Nam, nếu nó không muốn đóng mãi vài trò “công đoàn vàng”, hay một công đoàn độc lập sẽ phải ra đời, nếu không. Tác giả đoạn trích dẫn trên có thể hơi lạc quan, nhưng ông hoàn toàn có lý khi nhấn mạnh tới việc “dám” đặt viên gạch thứ ba cho xã hội dân sự / công dân. xã hội dân sự/CD là chân kiềng thứ ba của bộ ba Nhà nước Pháp quyền – Thị Trường – Xã hội dân sự/công dân của thời đại hôm nay.

Trở lại con mèo Cheshire của cô bé Alice và nhà toán học lôgic Lewis Carroll. Nói đến xã hội dân sự ở Việt Nam hay ở Trung Quốc, đọc những bài viết về vấn đề này, kể cả bài này, nhiều khi chúng ta không biết người ta nói đến con mèo hay cái cười của nó. Hay nếu không muốn nói tới mèo, cũng có thể nói tới chuột. Con chuột chũi (taupe) nổi tiểng của Hegel, mù loà, nhưng cứ lầm lũi, âm thầm, dưới lòng đất, đào những địa đạo. Mèo hay chuột, đằng nào xã hội dân sự cũng vẫn “lừng lững”[16] tiến tới.

Nguyễn Ngọc Giao
(Paris)

Chú thích:

[1]  Yves Chevrier: La question de la société civile, la Chine et le chat  de Cheshire, trong Etudes chinoises, Vol.XIV, n°2, automne 1995.

[2]  Timothy Brook & B. Michael Frolic, Civil Society in China, Studies on Contemporary China, M. E. Sharpe, New York & London, 1997, p.3.

[3]  Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải Hiện tượng học Tinh thần, Nhà xuất bản Văn Học, 2006, 1640 trang.

[4] Tôi xin dùng chữ “phóng khoáng” để gọi khái niệm “liberal” theo nghĩa chính tri – khác với khái niệm “liberal” về kinh tế.  Chữ “tự do” hay “tự do chủ nghĩa” mà nhiều tác giả dùng (trong ngữ cảnh chính trị cũng như kinh tế) tôi nghĩ không phù hợp – nếu không nói là nó xúc phạm khái niệm “tự do”.

[5] Về quan niệm của Marx, có thể đọc Lữ Phương: Xã hội công dân: từ triệt tiêu đến phục hồi, tham luận tại hội thảo VIETNAM UPDATE 94, Trường đại học Quốc gia Úc, Canberra, 11.1994, toàn văn bản tiếng Việt được đăng trên tạp chí Diễn Đàn, số 36, tháng 12.1994, đăng lại trên Trang Lữ Phương: http://www.viet-studies.info/LuPhuong/LuPhuong_XaHoiCongDan.htm

[6] A. Gramsci, Cahiers de prison, Gallimard, 1996.

[7] Jurgen Habermas: Faktizität und Geltung (Droits et démocratie: entre faits et normes), 1992/1994. Tham khảo thêm: khái niệm “xã hội dân chính” (Civic Society) thí dụ trong bài của Tôn Thất Nguyễn Thiêm: “Tiếng nói công dân: Vốn xã hội nhìn từ tương quan giữa Nhà nước, Thị trường và Xã hội dân chính” in trong Sĩ phu thời nay, kỷ yếu mừng giáo sư Hoàng Tuỵ, Nxb Tri Thức & Cti văn hoá Phương Nam, 2008.

[8] Albert CHEN LICHUAN (Trần Lệ Xuyên), Relations entre Etat et société civile en Chine, Fondation Charles Léopold Meyer, 2006 (http://base.china-europa-forum.net/rsc/docs/fiche_1171.pdf)

[9] Báo Công an Nhân dân điện tử, 10.06.2006 (http://ca.cand.com.vn/vi-VN/xahoi/2007/10/77833.cand)

[10] Đặng Ngọc Dinh, “Tình hình và đặc điểm của xã hội dân sự ở Việt Nam – Những mặt tích cực và các vấn đề cần hoàn thiện”, tr 129-130, trong XÃ HỘI DÂN SỰ Một số vấn đề chọn lọc, Vũ Duy Phú chủ biên, Viện những vấn đề phát triển, Nxb Tri Thức, 2008.

[11] Jean-Philippe BÉJA, A la recherche d'une ombre chinoise / Le mouvement pour la démocratie en Chine (1919-2004). Ed. du Seuil, Paris 2004

[12] Có thể xem thêm tham luận của tôi tại Hội thảo Đà Nẵng 2005 “Vấn đề Việt kiều” (http://hoithao.viet-studies.info/2005_NNGiao.pdf)

[13] http://www.thuvienphapluat.com/Default.aspx?CT=VC&LID=10490008

[14] Trần Ngọc Hiên, “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự nước ta”, Tạp chí Cộng sản điện tử (http://www.tapchicongsan.org.vn/print_preview.asp?Object=4&news_ID=8534515 )

[15] Central News Agency: http://www.taiwannews.com.tw/etn/news_content.php?id=697607&lang=eng_news&cate_img=35.jpg&cate_rss=news_Business_TAIWAN

[16] chữ của nhà văn Nguyên Ngọc.

SOURCE: TẠP CHÍ THỜI ĐẠI 15/3/2009

Trích dẫn từ: http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai15/200915_NguyenNgocGiao.htm

Thứ Bảy, 2 tháng 5, 2009

MỘT SỐ Ý KIẾN TRAO ĐỔI VỀ PHÁP LUẬT QUAN HỆ LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

NGUYỄN THỊ MINH NHÀN

Theo đánh giá của Bộ LĐTB&XH, kể từ khi Bộ Luật Lao động có hiệu lực thi hành, đến hết tháng 9/2008 cả nước đã xảy ra 2.636 cuộc đình công, trong tất cả các cuộc đình công xảy ra không có một cuộc đình công nào là hợp pháp và thực hiện theo trình tự thủ tục quy định về giải quyết tranh chấp lao động (TCLĐ) theo đúng luật. Phải chăng các quy định của pháp luật QHLĐ thiếu đồng bộ và ổn định là nguyên nhân của con số đáng quan ngại trên.

Sự khác biệt giữa pháp luật Lao động (PLLĐ) và pháp luật quan hệ lao động (QHLĐ)

Đối với PLLĐ, đây là hệ thống những quy định về tất cả các nội dung liên quan tới lĩnh vực lao động. Các quy định trong Luật Lao động trở thành tiêu chuẩn lao động quốc gia. PLLĐ là công cụ áp đặt ý muốn chủ quan của Nhà nước về một vấn đề lao động nào đó. Những tiêu chuẩn được quy định gắn với những vấn đề cụ thể như: thời gian làm việc; tỷ lệ đóng bảo hiểm; tiền lương, tiền lương làm thêm giờ; an toàn vệ sinh lao động; lao động đặc thù;... gắn với quy định mức tối thiểu (theo nghĩa ít nhất đối với những điều có lợi cho NLĐ và cao nhất đối những điều bất lợi cho NLĐ gắn với quyền lợi). Bên cạnh đó, PLLĐ cũng quy định trình tự thủ tục liên quan đến một số khía cạnh của QHLĐ như: quá trình giao kết hợp đồng lao động (HĐLĐ); quá trình thương lượng tập thể; quá trình giải quyết TCLĐ và đình công. PLLĐ có tác động điều tiết QHLĐ, song mức độ ảnh hưởng của nó chỉ mang tính “tạo khung”. Luật Lao động đưa những tiêu chuẩn lao động ở mức tối thiểu mà NSDLĐ không được vi phạm, như các mức bồi thường tai nạn lao động, an toàn vệ sinh lao động, tuổi lao động, tiền lương tối thiểu...

Còn đối với pháp luật về QHLĐ, đây là hệ thống những quy định được xây dựng nhằm điều chỉnh toàn bộ quá trình tương tác giữa hai chủ thể trong QHLĐ; bảo vệ việc hình thành, trong quá trình hoạt động và cả giai đoạn hậu tương tác một cách bình đẳng giữa các chủ thể.

Như vậy có thể thấy pháp luật về QHLĐ là một phần của PLLĐ. Pháp luật về QHLĐ điều chỉnh qúa trình tương tác giữa ba chủ thể tham gia QHLĐ, không điều chỉnh những vấn đề cụ thể.

Thực trạng pháp luật QHLĐ Việt Nam

Về mặt hình thức

Pháp luật hiện hành về QHLĐ cơ bản nhất ở nước ta hiện nay là Bộ luật Lao động (BLLĐ) đã trải qua thời gian 14 năm và đã được sửa đổi, bổ sung 3 lần. Kết quả sau ba lần sửa đổi bổ sung BLLĐ gồm có 198 điều luật được cấu tạo trong 17 chương với mục đích bảo vệ quyền làm việc, lợi ích và các quyền khác của NLĐ, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NSDLĐ, tạo điều kiện cho mối QHLĐ được hài hòa và ổn định,... về cơ bản đã phúc đáp nhu cầu thị trường, tôn trọng các bên tuy nhiên, đến nay tính chất “luật khung” vẫn còn nặng.

Về mặt nội dung

Với sự ra đời của BLLĐ, chế độ lao động giữa đối tượng lao động là công chức nhà nước và lao động hợp đồng cũng đã được phân tách. Theo đó, BLLĐ chỉ điều chỉnh QHLĐ giữa “NLĐ làm công ăn lương với NSDLĐ” thuộc các thành phần kinh tế, còn QHLĐ giữa công chức với các cơ quan của Nhà nước sẽ do luật hành chính điều chỉnh. BLLĐ đã xây dựng nên những tiêu chuẩn lao động quốc gia phù hợp với quá trình hội nhập. Tuy nhiên, văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh QHLĐ ở nước ta hiện nay “chưa hoàn thiện”. BLLĐ chung nhưng chưa đủ sức chứa đựng đầy đủ các nội dung cần điều chỉnh của lĩnh vực lao động và dĩ nhiên nội dung QHLĐ được chỉnh bởi BLLĐ còn thiếu và yếu; chưa dung nạp hết những quy tắc căn bản của QHLĐ DN trong nền kinh tế thị trường. Một trong những “quy tắc” đó là, phải tạo ra nền móng pháp luật đồng nhất, thúc đẩy khả năng tự điều chỉnh của các QHLĐ. Trong khi đó một số quy định của Bộ luật lại mang tính mệnh lệnh, chỉ thị.

Khi thực hiện đối chiếu, so sánh giữa những nội dung hiện có trong BLLĐ với nội hàm của QHLĐ và những nội dung của luật pháp về QHLĐ theo thông lệ quốc tế dễ dàng nhận thấy BLLĐ của Việt Nam còn thiếu nhiều cấu phần liên quan đến quan đến hai chủ thể của QHLĐ và sự tương tác giữa hai chủ thể này để có thể trở thành Bộ luật điều chỉnh QHLĐ của Việt Nam hoàn thiện. Với những gì hiện có trong BLLĐ hiện nay chỉ tồn tại 4 chương có đề cập đến vấn đề QHLĐ (đến đối tác, hình thức tương tác của QHLĐ) trong DN bao gồm: chương IV - Hợp đồng lao động; chương V - Thỏa ước lao động tập thể (TƯLĐTT); chương XIII - Công đoàn; chương XIV - Giải quyết tranh chấp lao động.

Pháp luật về TƯLĐTT (chương V)

Quốc hội khóa X tại kỳ họp thứ 11 (năm 2006) đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLLĐ năm 1994, trong đó có những sửa đổi, bổ sung các quy định về TƯLĐTT cho phù hợp với thực tế và mang tính khả thi cao hơn. Theo quy định tại Điều 44 của BLLĐ, TƯLĐTT “là văn bản thỏa thuận giữa tập thể lao động và NSDLĐ về các điều kiện lao động và sử dụng lao động, quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên trong QHLĐ”. TƯLĐTT được ví như một “bộ luật lao động con” tại mỗi DN. Hoạt động đối thoại và thương lượng được quy định trong chương V của BLLĐ vốn được coi là cốt lõi của QHLĐ trong nền kinh tế thị trường, nhưng ở nước ta hiện nay không được thực hiện hoặc nếu có thì mang tính hình thức. Các quy định về TƯLĐTT đã bộc lộ khá nhiều hạn chế cần được nghiên cứu hoàn thiện. Cụ thể là:

Một là, chương V - BLLĐ chỉ quy định về TƯLĐTT mà không có quy định chung về thương lượng tập thể, trong khi còn nhiều vấn đề khác của QHLĐ cần được giải quyết thông qua thương lượng tập thể như vấn đề giải quyết tranh chấp lao động, đình công...

Hai là, có sự chưa nhất quán giữa quy định của BLLĐ (Điều 44) và Nghị định hướng dẫn thi hành (Nghị định 196/CP) về nguyên tắc tự do, tự nguyện trong thương lượng ký kết TƯLĐTT. Sự thiếu tính đồng bộ đó dẫn tới có hai quan điểm và hai cách áp dụng khác nhau trong thực tế. Quan điểm thứ nhất cho rằng, các đối tượng nằm trong phạm vi áp dụng thỏa ước theo Điều 1 Nghị định số 93/2002/NĐ-CP bắt buộc phải ký kết TƯLĐTT. Quan điểm thứ hai thì lại cho rằng, việc ký kết TƯLĐTT là hoàn toàn phụ thuộc vào NSDLĐ và NLĐ, vào điều kiện khả năng của DN, nên TƯLĐTT không phải là bắt buộc; DN có quyền ký hay không ký thỏa ước. Điều đó dẫn đến việc thực thi không đồng đều.

Ba là, quy định về việc sửa đổi, bổ sung TƯLĐTT như hiện nay dễ tạo nên sự tùy tiện làm ảnh hưởng sự bình ổn của thỏa ước, dẫn đến mất ổn định trong kinh doanh, tạo ra sự xáo trộn trong quá trình thực hiện thỏa ước.

Bốn là, phạm vi chủ thể đại diện cho tập thể NLĐ để thương lượng và ký TƯLĐTT. Mục đích của việc này là nhằm xác lập cơ chế đảm bảo quyền thương lượng và ký kết thỏa ước ở những DN chưa có tổ chức công đoàn nhưng theo quy định của pháp luật hiện hành, ở những DN không có tổ chức công đoàn không thể ký kết TƯLĐTT.

Năm là, nội dung của TƯLĐTT theo quy định của pháp luật chưa khuyến khích những bản TƯLĐTT có lợi hơn cho NLĐ (Điều 46 của BLLĐ và mẫu TƯLĐTT được ban hành kèm theo Nghị định số 196/CP ngày 31/12/1994 của Chính phủ)

Sáu là, quy định về TƯLĐTT ngành, vùng trong pháp luật hiện hành chưa chi tiết, cụ thể và rõ ràng. Điều 54 BLLĐ quy định: “Những quy định tại chương TƯLĐTT được áp dụng cho việc thương lượng và ký kết TƯLĐTT ngành”. Tuy vậy, quy định của PLLĐ về TƯLĐTT ngành đến nay vẫn chưa có quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện.

Pháp luật về giải quyết TCLĐ (Chương XIV)

Trước hết, nhận diện vấn đề TCLĐ thông qua khái niệm và các loại TCLĐ. Về khái niệm “TCLĐ tập thể” và liên quan với nó là khái niệm “tập thể lao động” trong Luật được xác định rất chung chung, gây khó khăn cho việc áp dụng pháp luật (Điều 157).

Tiếp theo, bất cập lên quan đến quy định về thủ tục giải quyết TCLĐ, tại hội đồng hòa giải lao động cơ sở (quy định tại Điều 165a, 166 đối với TCLĐ cá nhân và 170, 170a đối với TCLĐ tập thể) không có cơ chế thi hành. Vấn đề sẽ phát sinh khi một trong hai bên hoặc cả hai bên không tự giác thi hành thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành. Khi đó TCLĐ sẽ rơi vào thế bế tắc do không thể tìm ra cách giải quyết bởi vì biên bản hòa giải thành không được đảm bảo bằng các biện pháp cưỡng chế thi hành.

Tiếp theo nữa, là quy định về điều kiện hợp pháp của đình công chưa hoàn thiện. Điều kiện để một cuộc đình công được coi là hợp pháp được xem xét trên rất nhiều phương diện. Trong những điều kiện của một cuộc đình công hợp pháp một số quy định còn thiếu như:

Về đối tượng được phép đình công, pháp luật hiện hành còn thiếu quy định về những công việc, dịch vụ tối thiểu cần duy trì hoạt động trong thời gian DN xảy ra đình công.

Về thời điểm đình công, thực tiễn trong thực thi pháp luật đình công ở nước ta trong thời gian qua cho thấy, đa số các cuộc đình công đều diễn ra bất ngờ, chớp nhoáng, không tuân thủ quy định về thời điểm đình công.

Thủ tục đình công quá “rườm rà” không mang tính thực tiễn, trong khi những bức xúc của NLĐ xuất phát từ những yêu cầu hợp pháp, chính đáng cần được bảo vệ ngay thì thủ tục đình công lại quá phức tạp.

Cách thức đình công, đây là phạm trù phản ánh phương thức ngừng việc của NLĐ kể từ thời điểm chính thức đình công cho đến khi tiếp tục trở lại làm việc. Trong khi đó thực tiễn đình công đã và đang diễn ra hết sức phức tạp thì quy định pháp luật hiện nay ở nước ta chưa đề cập trực tiếp đến vấn đề này.

Ngoài ra, quy định về những hành vi bị cấm thực hiện trước, trong và sau khi đình công đã khá đầy đủ, song còn thiếu một số hành vi mà thực tế đã phát sinh nhưng chưa thấy trong quy định của pháp luật như hiện tượng bế xưởng hay giải công ở NSDLĐ.

Một số đề xuất hoàn thiện pháp luật QHLĐ nước ta

Về mặt hình thức: Quan điểm thứ nhất cho rằng nghiên cứu xây dựng một BLLĐ hoàn chỉnh có tính pháp định cao, đầy đủ và chi tiết... Quan điểm thứ hai nên xây dựng các đạo luật riêng biệt cho mỗi vấn đề lao động. Quan điểm thứ ba là tích hợp hai quan điểm trên. Về nội dung hoàn thiện pháp luật về QHLĐ tạo môi trường pháp chế thuận lợi cho QHLĐ ổn định và phát triển là cần thiết và khách quan song phải có tính kế thừa và có lộ trình với các giải pháp đồng bộ...

Đối với pháp luật về TƯLĐTT (chương V)

Thứ nhất, bổ sung điều luật quy định về thương lượng tập thể. Theo cách tiếp cận của ILO các quy định mang tính pháp lý về thương lượng tập thể bao gồm: Xác định khái niệm thương lượng tập thể và các cuộc thương lượng được thừa nhận. Quy định công nhận việc các tổ chức đại diện cho NLĐ và NSDLĐ tham gia thương lượng tập thể. Quy định về nguyên tắc tự nguyện của các tổ chức đại diện cho NLĐ và NSDLĐ tự do và độc lập. Mục đích cụ thể của thương lượng tập thể là: xác định điều kiện lao động và sử dụng lao động; điều chỉnh quan hệ giữa NSDLĐ và NLĐ; bổ sung những quy định tối thiểu của pháp luật; ngăn chặn và giải quyết TCLĐ.

Thứ hai, sửa chỉnh và bổ sung các điều luật về TƯLĐTT liên quan đến các vấn đề:

Quy định về nguyên tắc tự do, tự nguyện trong thương lượng ký kết TƯLĐTT. Cần quy định rõ hơn trong Điều 1 của Nghị định số 93/2002/NĐ-CP và thống nhất với quy định tại Điều 44 của BLLĐ. Thực hiện điều này sẽ tránh sự hiểu lầm, đó là các đối tượng thuộc Điều 1 của Nghị định này “có thể” ký kết thỏa ước chứ không “bắt buộc” phải ký kết TƯLĐTT.

Quy định về việc sửa đổi, bổ sung TƯLĐTT. Điều 50 của BLLĐ về việc sửa đổi, bổ sung TƯLĐTT cần được quy định một cách chặt chẽ hơn. Hoặc là cho phép các bên tiến hành sửa đổi, bổ sung thỏa ước nhưng phải kèm theo các điều kiện chặt chẽ như có sự xác nhận của cơ quan lao động có thẩm quyền. Hoặc là cho rằng không cho các bên tiến hành sửa đổi thỏa ước. Khi các bên đã ký kết TƯLĐTT thì bắt buộc phải thực hiện. Còn nếu trong trường hợp có những yêu cầu mới thì các bên lập thành bản cam kết khác. Bản cam kết này được thực hiện song song với bản thỏa ước đã ký kết, có như vậy mới bảo đảm được ý nghĩa của thỏa ước, đồng thời bảo đảm được sự ổn định của QHLĐ trong thời gian có hiệu lực của TƯLĐTT.

Quy định về phạm vi chủ thể đại diện cho tập thể NLĐ để thương lượng và ký TƯLĐTT. Quy định về nội dung của TƯLĐTT, các nghị định phải quy định cụ thể chi tiết các nội dung quan trọng của TƯLĐTT như: định mức lao động, tiền lương, tiền thưởng, nâng bậc lương... Quy định về tổ chức đánh giá định kỳ bắt buộc việc thực thi các thỏa thuận trong thời gian thi hành thỏa ước.

Thứ ba, ban hành Nghị định hướng dẫn cụ thể Điều 54 BLLĐ về TƯLĐTT ngành. Pháp luật về TƯLĐTT ngành, các cơ quan có thẩm quyền nên quy định gồm các nội dung cơ bản như: Chủ thể đại diện; Nội dung thương lượng, ký kết; Trình tự, thủ tục thương lượng ký kết; Đăng ký thỏa ước ngành; Mối quan hệ giữa TƯLĐTT ngành và thoả ước doanh nghiệp.

Đối với pháp luật về giải quyết TCLĐ (chương XIV)

Một là, chuẩn hóa một số khái niệm cơ bản liên quan đến TCLĐ mà trong pháp luật về QHLĐ còn thiếu hoặc đã có nhưng chưa thống nhất, làm cơ sở cho việc thực thi pháp luật về QHLĐ trong thực tiễn như: CTLĐ tập thể; tập thể lao động.

Hai là, hoàn thiện các quy định về điều kiện hợp pháp của đình công bao gồm: đối tượng được phép đình công; Về vấn đề hạn chế quyền đình công của NLĐ.Thời điểm đình công, thủ tục đình công, cách thức đình công...

Ba là, hoàn thiện quy định về giải quyết đình công./.

SOURCE: TẠP CHÍ KINH TẾ VÀ DỰ BÁO SỐ 7 (447) THÁNG 4 NĂM 2009

Thứ Sáu, 1 tháng 5, 2009

TIẾP TỤC HOÀN THIỆN THỂ CHẾ VỀ SỞ HỮU TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

NGUYỄN VĂN HẬU

Trong quá trình hình thành và phát triển thể chế kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) thì việc hình thành và phát triển thể chế về sở hữu là vấn đề cốt lõi, giữ vị trí trung tâm. C.Mác viết: “...tất cả những cuộc cách mạng gọi là những cuộc cách mạng chính trị, từ cuộc cách mạng đầu tiên đến cuộc cách mạng cuối cùng, đều được tiến hành để bảo hộ sở hữu thuộc một loại nào đó”. ở nước ta hiện nay, xây dựng và phát triển thể chế về sở hữu phải đảm bảo vừa thực hiện chủ trương đa dạng hoá các hình thức sở hữu cho phù hợp với KTTT, vừa phải giữ vững định hướng XHCN.

Định hướng hoàn thiện thể chế về sở hữu

Trong những năm qua, thể chế về các hình thức sở hữu đa dạng đã từng bước được hình thành và phát huy tác dụng, làm cho nền kinh tế Việt Nam phát triển năng động và hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều mặt tồn tại, chưa đáp ứng yêu cầu của sự phát triển và hội nhập. Vì vậy cần phải được tiếp tục xây dựng và hoàn thiện theo những hướng sau đây:

Tiếp tục khẳng định sự tồn tại khách quan, lâu dài và khuyến khích sự phát triển đa dạng các hình thức sở hữu, các loại hình doanh nghiệp, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ sở hữu khác nhau trong nền kinh tế; xây dựng, hoàn thiện luật pháp về sở hữu đối với các loại tài sản mới như trí tuệ, cổ phiếu, trái phiếu, tài nguyên nước, khoáng sản...

Khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân mà đại diện là Nhà nước; các quyền của người sử dụng đất theo các quy định hiện nay của pháp luật được tôn trọng và bảo đảm.

Tách bạch vai trò của Nhà nước với tư cách là bộ máy công quyền quản lý toàn bộ nền kinh tế - xã hội với vai trò chủ sở hữu tài sản, vốn của Nhà nước; tách chức năng chủ sở hữu tài sản, vốn của Nhà nước và chức năng quản trị kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước; thu hẹp và tiến tới xóa bỏ chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước của các bộ, Ủy ban nhân dân (UBND) đối với tài sản, vốn nhà nước tại các doanh nghiệp có tài sản, vốn nhà nước. Tiếp tục đổi mới, củng cố và phát huy vai trò của mô hình công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước.

Quy định rõ, cụ thể về quyền của chủ sở hữu và những người liên quan đối với các loại tài sản (trí tuệ, tài sản vật chất, tài sản cổ phiếu, tài sản nợ); bảo hộ các quyền lợi hợp pháp. Đồng thời, quy định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu và những người liên quan đối với xã hội.

Khuyến khích, hỗ trợ phát triển sở hữu tập thể, các tổ hợp tác, hợp tác xã; bảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích của các xã viên đối với tài sản thuộc sở hữu của hợp tác xã.

Khuyến khích liên kết hỗn hợp giữa sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân, làm cho chế độ cổ phần, sở hữu hỗn hợp trở thành hình thức sở hữu chủ yếu của các doanh nghiệp trong nền kinh tế.

Quy định pháp lý về quyền sở hữu của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam về đối tượng, điều kiện để người nước ngoài có quyền được mua, được sở hữu nhà ở gắn với quyền sử dụng đất và các tài sản khác tại Việt Nam.

Giải pháp cụ thể

Muốn thực hiện được các phương hướng trên, cần phải giải quyết những vấn đề cụ thể sau đây:

Thứ nhất, tiếp tục rà soát lại các văn bản pháp luật, tìm ra và sửa đổi kịp thời những quy định trái với phương hướng trên. Điều chỉnh những quy định chồng chéo, mâu thuẫn nhau để đảm bảo có sự nhất thể hoá và tính đồng bộ giữa các văn bản pháp luật.

Khi điều chỉnh các văn bản pháp luật trong điều kiện Việt Nam là thành viên của WTO phải đối chiếu với các nguyên tắc cơ bản của WTO để sửa đổi như: không phân biệt đối xử, tự do hoá thương mại và cạnh tranh công bằng, minh bạch hoá...

Việc nghiên cứu rà soát các văn bản pháp luật về sở hữu và về các chủ thể sản xuất kinh doanh cần được tiến hành để tìm ra những khác biệt bất hợp lý trong thành lập, quản trị DN; những quy định bất hợp lý giữa các DN thuộc thành phần kinh tế khác nhau trong lĩnh vực thuế, phí và lệ phí; trong lĩnh vực tín dụng; những quy định khác biệt giữa các loại hình DN trong lĩnh vực đất đai. Căn cứ vào các văn bản pháp luật hiện hành, kinh nghiệm xây dựng pháp luật của thế giới và thực tiễn bối cảnh kinh tế nước nhà để tiến hành rà soát, nghiên cứu sao cho cân đối được các lợi ích của các bên chịu tác động, lợi ích nhà nước, giới hạn tới mức tối đa các bất hợp lý cho mỗi bên.

Trước hết cần sửa đổi, bổ sung một số luật và văn bản dưới luật có liên quan đến vấn đề sở hữu mà trên thực tế có những điều khoản tỏ rõ không phù hợp, gây cản trở cho sự phát triển kinh tế thị trường như Luật Đất đai , Luật Sở hữu Trí tuệ, Luật Nhà ở, Luật Khoáng sản, Luật Chuyển giao Công nghệ và Luật Chứng khoán... cũng như phải rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản hướng dẫn thi hành luật nhưng lại trái với các luật.

Đối với Luật Đất đai (2003), cần sửa đổi cho phù hợp với thực tế và giải quyết thực trạng mâu thuẫn gay gắt trong đền bù giải phóng mặt bằng giữa doanh nghiệp và người dân. Việc sửa đổi Luật Đất đai lần này cần tập trung vào ba nội dung chính: 1) Quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất; 2) Giá đất và bồi thường giải phóng mặt bằng; 3) Cơ chế và chính sách đền bù, giải phóng mặt bằng khi giao đất và khi thu hồi đất, tháo gỡ cho doanh nghiệp, đơn giản hoá thủ tục để dễ cho doanh nghiệp. Sửa đổi và bổ sung Luật Đất đai phải đảm bảo nhằm khai thông những vướng mắc, để đất đai thực sự là nguồn lực quan trọng trong phát triển kinh tế, ổn định xã hội, đảm bảo an ninh lương thực và định hướng cho một thị trường giao dịch bất động sản lành mạnh.

Công cuộc đổi mới cũng đưa đến quan niệm mới về đối tượng sở hữu trong KTTT, đối tượng của sở hữu không chỉ bao gồm những của cải bằng vật thể hữu hình, mà còn gồm cả những của cải phi vật thể và được “tiền tệ hoá”. Vì vậy, cần tiếp tục xây dựng, hoàn thiện luật pháp về sở hữu đối với các loại tài sản mới như trí tuệ, cổ phiếu, trái phiếu... Luật pháp về sở hữu trí tuệ phải được xây dựng và hoàn thiện sao cho phù hợp với TRIPS (Hiệp định bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ).

Trước đây, xét trên quan hệ pháp lý, quyền sở hữu và quyền sử dụng không có sự tách biệt mà được coi là một. Vì vậy, thể chế của nền kinh tế cũng dựa trên quan hệ đó để xây dựng và trên thực tế nó đã có những hạn chế lớn đến hiệu quả sử dụng đối tượng sở hữu, không phát huy được tính chủ động trong hoạt động (người sử dụng phải tuân thủ yêu cầu của chủ sở hữu); không gắn được trách nhiệm của từng chủ thể trong việc sử dụng đối tượng sở hữu (cả về quan hệ pháp lý và quan hệ kinh tế) dễ dẫn đến tình trạng “vô chủ” và chính nhận thức này không tạo được cơ sở giải quyết quan hệ lợi ích trong việc thực thi các quyền trong chế độ sở hữu. Vì vậy, cần hoàn thiện thể chế về quyền của chủ sở hữu và những người có liên quan đến các đối tượng sở hữu; quy định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của các bên.

Thứ hai, đổi mới quy trình xây dựng luật pháp, nâng cao chất lượng công tác xây dựng và hiệu quả thực thi pháp luật: cần chủ động lên kế hoạch cho chương trình làm luật từng kỳ họp của Quốc hội, việc ban hành những luật mới phải được hoạch định theo tư tưởng hoàn thiện thể chế kinh tế.

Nghị quyết số 48-NQ/TƯ của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã xác định mục tiêu “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, trọng tâm là hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; đổi mới căn bản cơ chế xây dựng và thực hiện pháp luật; phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, góp phần đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020”. Để có thể đạt được mục tiêu này, một trong những giải pháp quan trọng là phải đổi mới cơ bản quy trình, thủ tục xây dựng pháp luật từ sáng kiến pháp luật đến thông qua luật nhằm đẩy nhanh quá trình soạn thảo, ban hành luật. Nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật.

Nhờ đẩy nhanh tốc độ nên công tác lập pháp trong thời gian qua đã kịp thời thể chế hóa các nghị quyết của Đảng, ban hành được số lượng lớn văn bản luật, pháp lệnh, bước đầu tạo lập được khung pháp luật để quản lý nhà nước, tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là đã góp phần quan trọng đưa đất nước hội nhập vào nền kinh tế thế giới.

Tuy nhiên, cùng với những kết quả đạt được, hoạt động lập pháp từ khâu lập chương trình, soạn thảo, thẩm tra đến việc thảo luận, thông qua các dự án luật, pháp lệnh vẫn còn có những hạn chế nhất định. Cụ thể như: Việc lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh cả nhiệm kỳ và hàng năm vẫn chưa sát thực tế, chưa dự báo đầy đủ yêu cầu nên tính khả thi chưa cao, phải điều chỉnh lại nhiều lần. Có văn bản chưa thực sự cần thiết nhưng lại được đưa vào chương trình. Việc xác định tên gọi, hình thức, phạm vi điều chỉnh của văn bản và phân công cơ quan soạn thảo, cơ quan thẩm tra trong một số trường hợp còn chưa hợp lý. Chưa có sự phân công rành mạnh, hợp lý giữa các cơ quan trong việc soạn thảo nên đã dẫn đến tình trạng chờ đợi, dựa dẫm nhau làm chậm tiến độ lập pháp cũng như giảm chất lượng soạn thảo văn bản, kết quả là nhiều dự án không được soạn thảo, trình đúng tiến độ, không được gửi đến cơ quan thẩm tra, UBTVQH, Quốc hội đúng thời hạn theo quy định của pháp luật. Có dự án, do trong quá trình xây dựng chưa có sự trao đổi, bàn bạc kỹ giữa các cơ quan có trách nhiệm nên mặc dù đã được trình ra Quốc hội nhưng ý kiến giữa các cơ quan này chưa thống nhất được với nhau về các nội dung quan trọng. Chưa có quy định cụ thể về trình tự, thủ tục Chính phủ xem xét, thảo luận và thông qua dự án luật, pháp lệnh nên trong thực hiện chưa tuân thủ đầy đủ quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật là Chính phủ phải thảo luận tập thể và biểu quyết theo đa số.

Giai đoạn nghiên cứu tiếp thu ý kiến đại biểu quốc hội đối với dự án luật và nghiên cứu tiếp thu ý kiến của các thành viên UBTVQH đối với dự án pháp lệnh là giai đoạn rất quan trọng, ảnh hưởng lớn đến chất lượng của văn bản nhưng chưa được quy định rõ trình tự, thủ tục cũng như trách nhiệm cụ thể của các cơ quan hữu quan. Chưa có cơ chế hợp lý để ủy ban Pháp luật thực hiện vai trò bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật đối với các dự án luật, pháp lệnh trước khi trình Quốc hội, UBTVQH thông qua. Quy trình xem xét, thông qua luật tại kỳ họp Quốc hội, tuy có cải tiến, nhưng vẫn còn những điểm chưa hợp lý.

Thứ ba, cần có cơ chế thu hút các chuyên gia giỏi, những người trực tiếp thi hành pháp luật và trí tuệ của nhân dân, các tổ chức xã hội, hiệp hội nghề nghiệp vào hoạt động xây dựng pháp luật, đổi mới việc tổ chức lấy ý kiến của các bộ, ngành, các thành viên Chính phủ về các dự thảo văn bản pháp luật để đạt được hiêu quả thiết thực.

Về vấn đề này Việt Nam nên áp dụng kinh nghiệm của Trung Quốc là ngoài việc trao quyền cho các bộ, ngành hữu quan, nên giao cho những tổ chức và cá nhân (nếu có thể) am hiểu và có trình độ pháp luật cao cùng soạn thảo.

Hiện nay, hoàn thiện thể chế về sở hữu ở Việt Nam là một việc cần thiết khách quan là vì, một mặt, khi điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi thì thể chế cũng phải có sự điều chỉnh cho phù hợp; mặt khác, còn do yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là khi Việt Nam đã là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Gia nhập WTO Việt Nam cần có “một làn sóng thứ hai” của cải cách thể chế “quyết liệt” sao cho vừa phù hợp với kinh tế thị trường, vừa giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa./.

SOURCE: TẠP CHÍ KINH TẾ VÀ DỰ BÁO SỐ 7 (447) THÁNG 4 NĂM 2009

Bài đăng phổ biến