Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh nghiệm pháp lý. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh nghiệm pháp lý. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 11 tháng 3, 2013

Những chú ý khi thế chấp nhà để vay tiền ngân hàng

the chap nha
Coi chừng "bẫy" trong thế chấp nhà
     Thế chấp nhà giúp bạn vay tiền ngân hàng. Do hợp đồng thế chấp không ghi thời hạn nên ngân hàng tiếp tục ký hợp đồng cho vay mới mà không cần hỏi ý kiến của chủ nhà.
     Ngày 16-6-2010, ông Nguyễn Văn Hiền (quận Tân Bình, TP.HCM) làm hợp đồng thế chấp căn nhà của ông để bảo đảm cho công ty của người bạn vay 1,1 tỉ đồng tại một ngân hàng có phòng giao dịch ở đường Lý Thường Kiệt. Thời hạn người bạn vay tiền là một năm.
     Đến cuối thời hạn vay, ông Hiền đã đến ngân hàng thông báo chấm dứt việc bảo lãnh để lấy lại giấy tờ nhà. Lúc đó ngân hàng hẹn “sẽ giao giấy sau khi hoàn thành các thủ tục công chứng đăng ký giao dịch bảo đảm tài sản khác thay thế”. Gần tháng sau ông quay trở lại thì mới biết “tin dữ”: Tháng 7-2011, sau khi tất toán hợp đồng vay cũ, ngân hàng đã tiếp tục ký hợp đồng khác cho người bạn vay 1,1 tỉ đồng trong thời hạn một năm. Điều đáng nói là ngân hàng tiếp tục lấy tài sản của ông để bảo đảm cho khoản vay này. Không đồng ý, ông đã khiếu nại.
     Trong văn bản trả lời ông, ngân hàng cho biết: Điều 2 hợp đồng thế chấp cũ có chữ ký của ông Hiền đã nêu rõ: “Nghĩa vụ được bảo đảm của tài sản thế chấp là toàn bộ các nghĩa vụ trả nợ cho bên vay/bên được cấp tín dụng… và bao gồm cả nghĩa vụ phát sinh trước hoặc sau thời điểm ký hợp đồng này”. Điều 12 của hợp đồng cũng lưu ý: “Hợp đồng này được sử dụng cho nhiều lần vay, cấp thẻ tín dụng, mở L/C hoặc các hình thức cấp tín dụng khác… và bên thế chấp chấp nhận nội dung tất cả điều khoản trong các hợp đồng tín dụng, hợp đồng cấp tín dụng, hợp đồng sửa đổi bổ sung, phụ lục hợp đồng, các cam kết của bên vay… kể cả trong trường hợp bên thế chấp không ký tên trên các hợp đồng cam kết này”. Theo đó, ngân hàng đã tiếp tục căn cứ vào hợp đồng thế chấp cũ để cho khách hàng vay lần nữa mà không cần ông Hiền phải ký tên xác nhận.
     “Tại sao tôi đã đến báo không muốn bảo lãnh nữa mà ngân hàng lại không chịu nghe? Tại sao trong hợp đồng vay có ghi “bên bảo đảm giữ một bản” và chừa chỗ để bên bảo đảm ký tên mà ngân hàng lại không gửi hợp đồng vay tiền lần hai cho tôi và cũng không để tôi ký tên?” - ông Hiền bất bình.
     Trao đổi với PV, giám đốc phòng giao dịch trên giải thích: “Ngân hàng có ghi nhận việc ông Hiền đến báo lấy lại giấy tờ nhà và không tiếp tục bảo lãnh. Thế nhưng khi nào tiếp nhận tài sản khác thay thế thì ngân hàng mới có thể làm thủ tục trả giấy tờ nhà cho ông Hiền. Hợp đồng cho vay năm 2011 không cần chữ ký của người bảo lãnh vì đây là hợp đồng giữa bên cho vay với bên vay. Hiện ngân hàng đang khởi kiện công ty vay tiền để thu hồi nợ”.
Các ngân hàng khác làm sao?
     Đối với việc thế chấp tài sản của người thứ ba để bảo đảm khoản vay (còn gọi là hợp đồng bảo lãnh), PV được biết nhiều ngân hàng khác làm rất chặt chẽ. Sau khi hết hạn hợp đồng cho vay mà người vay muốn vay tiếp, các ngân hàng đều yêu cầu người bảo lãnh ký lại hợp đồng bảo lãnh, đồng thời ký tên vào hợp đồng vay mới. Người bảo lãnh cũng được giao giữ một bản hợp đồng vay mới.
Theo THÁI HIẾU - báo PL Tp Hồ Chí Minh online 

Thứ Hai, 28 tháng 5, 2012

Tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì phải chia khi ly hôn

tai san hon nhan
        Bà N. và ông M. kết hôn năm 1979, chung sống hạnh phúc đến năm 1999 thì phát sinh mâu thuẫn. Năm 2002, ông bà được tòa án giải quyết cho ly hôn và giải quyết xong phần con cái. Riêng phần tài sản thì vẫn chưa giải quyết xong. Nay bà N. yêu cầu tòa án phân chia tài sản chung giữa bà và ông M.

       Theo bà N., vợ chồng bà đã tạo lập được hơn 12.000 m2 đất, chia làm ba phần. Phần thứ nhất (7.000 m2) do vợ chồng bà mua trả góp năm 1982 với giá 150 giạ lúa, thời hạn trả góp là năm năm. Phần thứ hai (4.000 m2) do vợ chồng bà mua năm 1983 với giá 3,5 chỉ vàng, trên đất có một căn nhà và một số cây tràm. Phần thứ ba (hơn 1.000 m2) do ông M. khai phá trước khi kết hôn, khi về chung sống thì vợ chồng bà trực tiếp sử dụng cho đến nay. Bà N. cho rằng vợ chồng bà đã trực tiếp sử dụng hơn 12.000 m2 nói trên đến khi hai người ly hôn. Vì vậy, đây là tài sản chung và phải chia đôi.

       Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với toàn bộ phần đất tranh chấp chỉ do ông M. đứng tên. Ông M. chỉ đồng chí chia phần đất thứ hai (4.000 m2) do vợ chồng ông mua năm 1983. Đối với hơn 8.000 m2 đất còn lại, ông M. cho rằng mình chỉ đứng tên giùm trên giấy tờ thay cho cha mẹ ruột của ông. Đây là tài sản riêng của cha mẹ ông nên không thể phân chia được.

       Xét xử sơ thẩm vụ án, TAND huyện Củ Chi (TP.HCM) chấp nhận yêu cầu chia tài sản của bà N. Cấp sơ thẩm nhận định đây là tài sản chung của vợ chồng nên ông M. phải chia bà N. hơn 6.000 m2 đất trong tổng số hơn 12.000 m2 diện tích đất tranh chấp. Bà N. có quyền liên hệ với cơ quan chức năng để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần đất được chia. Cấp sơ thẩm cũng kiến nghị UBND huyện Củ Chi thu hồi giấy đỏ đã cấp cho ông M. để điều chỉnh lại diện tích đất.

Cách giải quyết tranh chấp của TAND huyện Củ Chi được TAND TP.HCM đồng tình khi phúc thẩm vụ án.
Trả lời khiếu nại của ông M., TAND Tối cao cũng cho rằng đây là tài sản chung. Ông M. và bà N. kết hôn năm 1979 và phần đất nói trên có trong thời kỳ hôn nhân. Ông M. không có chứng cứ gì chứng minh đây là tài sản riêng của ông. Phần đất tranh chấp nói trên là tài sản chung của vợ chồng nên phải được chia.

KINH NGHIỆM PHÁP LÝ:
        Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân… Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung”.
Ông M. không chứng minh được phần tài sản tranh chấp là tài sản riêng nên về nguyên tắc, đó là tài sản chung và phải chia.
(Theo Báo pháp luật TP HCM online)

Chú ý khi ký hợp đồng chuyển nhượng đất đai

chuyen nhuong dat dai
        Ông T. kiện bà P. ra tòa để đòi quyền sử dụng hơn 1.000 m2 đất. Ông T. cho biết vợ chồng ông mua phần đất này từ một người khác, chưa kịp làm thủ tục sang tên nên giấy đỏ vẫn đứng tên chủ cũ. Mấy năm trước, vợ ông giao giấy đỏ đứng tên chủ cũ cho bà P. để vay 20 triệu đồng. Thế mà bà P. lại tự ý làm thủ tục sang tên trên giấy đỏ cho chính bà, sau đó rào khu đất, đập nhà và san lấp giếng nước của gia đình ông.
        Ngược lại, bà P. khẳng định mình đã mua phần đất này với giá 70 triệu đồng. Sau khi nhận đủ tiền, vợ ông T. giao cho bà giấy đỏ đứng tên chủ cũ. Thậm chí sau khi chuyển nhượng, con gái của bên bán cũng dọn ra khỏi nhà để giao đất cho bà. Việc chuyển nhượng xong xuôi nên bà mới dỡ nhà, rào đất, đồng thời lập thủ tục hợp thức hóa giấy tờ từ tên chủ cũ sang cho bà.
        Trong quá trình giải quyết vụ án, từ đầu chí cuối vợ chồng ông T. đều khẳng định việc chuyển nhượng như bà P. nói là không có thật. Ngoài việc đòi đất, vợ chồng ông T. còn yêu cầu bà P. bồi thường hơn 72 triệu đồng cho phần căn nhà bà P. đã dỡ bỏ, giếng nước đã san lấp cùng hoa lợi trên đất đã bị thiệt hại. Tuy nhiên, TAND thành phố P đã bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông T.
        Tháng 3-2011, TAND tỉnh N đưa vụ án trên ra xét xử phúc thẩm. Cấp phúc thẩm đánh giá thực tế có việc chuyển nhượng hơn 1.000 m2 đất giữa các bên, bởi có khá nhiều nhân chứng đã chứng kiến việc mua bán này. Một nhân chứng còn khẳng định đã trực tiếp viết giùm giấy chuyển nhượng cho bà P. và vợ ông T. với giá chuyển nhượng đúng là 70 triệu đồng. Nguyên đơn khai không chuyển nhượng mà chỉ thế chấp giấy đỏ để vay 20 triệu đồng và đã trả xong tiền cho bị đơn. Tuy nhiên, lời khai này không có cơ sở bởi nếu đã trả hết tiền, tại sao vợ chồng ông T. không đòi lại giấy đỏ đã thế chấp mà lại để cho bà P. đến dỡ nhà, rào đất. Thậm chí, con gái nguyên đơn còn ra khỏi nhà để giao đất cho bị đơn.
        Đến đây, thế cờ tưởng chừng có lợi cho bà P. nhưng không phải. Cấp phúc thẩm nhận định hơn 1.000 m2 đất các bên đang tranh chấp vốn là tài sản chung của vợ chồng ông T. Trong khi đó, chỉ có một mình vợ ông T. đứng ra ký hợp đồng chuyển nhượng với bà P. nên hợp đồng vô hiệu. Nhận định của cấp phúc thẩm phù hợp với khoản 1 Điều 28 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, vốn quy định “Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung”. Nội dung này cũng được quy định tại Điều 219 Bộ luật Dân sự năm 2005.
        Vì mắc những thiếu sót nghiêm trọng nên TAND thành phố P phải xét xử sơ thẩm lại vụ án trên. Muốn thắng kiện, bà P. chỉ có cách chứng minh 1.000 m2 đất nêu trên là tài sản riêng của vợ ông T. Điều này không dễ vì ông T. có căn cứ khẳng định đây là tài sản chung của cả vợ chồng ông. Giá như khi ký kết hợp đồng, bà P. đừng “nhớ vợ quên chồng”, không bỏ qua vai trò quan trọng của ông T. thì đâu đến nỗi.
(Theo Báo pháp luật TP HCM online)

Thứ Năm, 3 tháng 5, 2012

Chú ý khi làm thủ tục công chứng mua bán, thế chấp nhà, đất

cong chung nha dat      Gần đây trên địa bàn TP.HCM, tình trạng làm giả hồ sơ hoặc giả người để làm thủ tục công chứng mua bán, thế chấp nhà, đất diễn ra ngày một nhiều. Nếu không được phát hiện kịp thời thì việc công chứng giấy tờ giả có khả năng gây thiệt hại lớn cho người giao dịch và trên thực tế đã có nhiều người bị mất số tiền lớn.
      Tuy chưa có con số thống kê đầy đủ nhưng hầu như tất cả cơ quan công chứng trên địa bàn TP.HCM đều gặp “bẫy” giấy tờ nhà, đất bị làm giả, thậm chí cả người cũng giả. Thủ đoạn giả nhiều lúc rất tinh vi khiến công chứng viên (CCV) rất khó nhận biết bằng mắt thường.
Giả giấy chủ quyền nhà, đất, CMND
      Tháng 1-2012, ông T. đến Văn phòng Công chứng (VPCC) Tân Bình để lập thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông B. với số tiền chuyển nhượng lên tới 5 tỉ đồng. Khi xem xét hồ sơ, CCV nhận thấy các loại giấy như CMND, trích sao trước bạ, giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, giấy chủ quyền đất đều là giả. Đặc biệt, ông T. đã sử dụng giấy CMND giả với ảnh và dấu vân tay thật. CCV đã báo ngay cho Công an phường 13 và nơi đây đã chuyển hồ sơ đến Công an quận Tân Bình xử lý.
      Đối tượng làm giả giấy chủ quyền không chỉ nhắm vào cá nhân mà còn muốn đánh lừa cả những tổ chức. Cuối năm 2011, Phòng Công chứng (PCC) số 2 tiếp nhận một hồ sơ thế chấp nhà cho ngân hàng để vay 25 tỉ đồng có dấu hiệu giả mạo. Người vay đã sử dụng giấy chủ quyền nhà giả nhưng phía ngân hàng không biết. May là CCV đã chủ động phát hiện nên kịp thời “cứu nguy” cho ngân hàng.
Giả người đi công chứng
      Ngoài việc đương đầu với giấy tờ giả, các cơ quan công chứng còn “đau đầu” với tình trạng người giả. Nhiều cơ quan công chứng nhiều lần phát hiện người khác đóng thế vai chủ nhà. Điều này xảy ra chủ yếu đối với các cặp vợ chồng. Do một bên vợ hoặc chồng muốn bán tài sản mà bên kia không đồng ý nên họ đã lén nhờ người khác ra công chứng ký tên mua bán.
      Bà Huỳnh Thị Ngọc Yến, Trưởng PCC số 6, cho biết phòng này từng gặp trường hợp chị giả em giống nhau đến nỗi khi đối chiếu ảnh trong CMND thì CCV không nhận ra. Đến khi yêu cầu người này lăn tay thì phòng mới phát hiện dấu vân tay của người giao dịch không trùng khớp với vân tay trong CMND. Bấy giờ, người giao dịch là người chị mới khai do cô em đi làm nên cô chị đi ký thay. Sau đó họ xin dời ngày công chứng hồ sơ và cô em đã trực tiếp đến ký hồ sơ giao dịch.
      PCC số 4 cũng từng phát hiện và kịp thời báo công an bắt giữ ông V. giả danh chủ nhà để đi công chứng hồ sơ mua bán nhà. Người này đã thuê người làm giả giấy chủ quyền nhà của người khác (trong đó ghi tên ông là chủ) để bán nhà. Khi tiếp nhận hồ sơ, CCV thấy bên bán có thái độ bồn chồn, lo lắng không giống người đi công chứng bình thường. Mặt khác, giấy chủ quyền có màu nhạt hơn giấy thật. Vì vậy, CCV đã xác minh ngay và được biết căn nhà mang ra mua bán lẫn các thông tin trên giấy chủ quyền là có thật nhưng tên chủ sở hữu thì không thật.
Giả cả giấy lẫn người
      Nếu như ở những trường hợp trên, người đi công chứng chỉ giả người hoặc giả giấy thì có những trường hợp họ làm giả cả hai.
      Ngày 6-1-2011, bà H. cùng vợ chồng ông L. đến VPCC T. để công chứng hợp đồng thế chấp một căn nhà ở quận Phú Nhuận. Theo đó, bà H. cho vợ chồng ông L. vay 1 tỉ đồng trong thời gian ba tháng. Nếu quá hạn mà không trả được nợ thì vợ chồng ông L. phải làm hợp đồng bán căn nhà đã thế chấp nêu trên cho bà H. Đến hẹn, bên vay không trả tiền nên bà H. kiện ra tòa đòi nợ thì mới biết vợ chồng người vay tiền đã đóng giả chủ nhà. Còn chủ nhà thật thì bị mất giấy chủ quyền cùng với CMND và họ đang làm thủ tục cấp giấy mới. Khi bị công an 113 bắt giữ, người giả danh vợ ông L. thừa nhận được người khác thuê làm vợ để ký giấy tờ và được bồi dưỡng 5 triệu đồng. Cho rằng VPCC T. không làm hết trách nhiệm trong việc công chứng hợp đồng thế chấp nhà, bà H. đã khởi kiện đơn vị này ra tòa để đòi bồi thường hơn 1,1 tỉ đồng (gồm có 1 tỉ đồng mà bà đã cho người giả danh ông L. vay và khoản tiền lãi từ việc cho vay). Hiện TAND quận 3 đã thụ lý vụ án này.
      Đáng nói là cũng với hồ sơ nhà đó, đối tượng còn đến VPCC N. ký hợp đồng bán nhà với giá 500 triệu đồng. Khi người mua đi sang tên thì hồ sơ bị Phòng TN&MT quận Phú Nhuận giữ lại để xác minh. Theo kết quả giám định thì toàn bộ hồ sơ mua bán nhà từ giấy chủ quyền cho đến CMND, hộ khẩu, giấy chứng nhận kết hôn của vợ chồng ông L. đều là giả mạo.
      Nếu ở hai vụ trên giấy giả, người giả qua mặt được CCV thì trong vụ sau đây do được CCV PCC số 5 phát hiện (với sự góp công của Phòng TN&MT quận Gò Vấp) nên người mua đã không bị mất tiền oan uổng. Khi thấy giấy chủ quyền nhà mờ và tái hơn giấy thật, CCV đã gọi điện thoại nhờ cơ quan cấp giấy kiểm tra thông tin. Đồng thời với việc rà soát, Phòng TN&MT quận Gò Vấp còn cử ngay cán bộ cầm giấy chủ quyền thật đến tận PCC để đối chiếu. Sợ bị “túm cổ”, đối tượng sử dụng giấy giả đã bỏ lại hồ sơ rồi nhanh chân chạy mất.
      Tương tự như trên, khi tiếp nhận công chứng hồ sơ mua bán gần 1.000 m2 đất ở huyện Hóc Môn, một CCV của PCC số 4 nghi ngờ các giấy tờ như hộ khẩu, CMND, giấy xác nhận tình trạng hôn nhân… của bên bán là giả mạo do chúng khác lạ từ màu mực đến con dấu. CCV đã “bỏ nhỏ” cho người mua tìm hiểu lại thì mới biết toàn bộ hồ sơ mà bên bán cung cấp đều giả mạo. Lúc này, bên bán cũng “lặn” mất tăm. CCV này thở phào: “Nhờ nhận ra sớm tôi đỡ lo mà người mua cũng tránh được thiệt hại”.
Hậu quả từ việc giao dịch giả
      Khi công chứng, sang tên xong mới phát hiện hồ sơ nhà, đất giả cả người lẫn giấy tờ thì nguy cơ trắng tay của người mua là rất lớn. Bởi khả năng tìm được những kẻ giả mạo để đòi lại tiền là rất mong manh, còn nhà, đất cũng đâu phải của họ mà nhận.
      Trường hợp lỡ giao dịch với người giả thì hợp đồng có thể bị tòa án tuyên vô hiệu. Bấy giờ, người mua cũng rất khó nhận lại tiền vì dẫu tòa có tuyên cho thắng kiện thì bên bán chắc gì còn tiền, tài sản để thi hành án. Có khi sự việc chưa được giải quyết xong thì gia đình đã lục đục vì bị lừa một số tiền không phải nhỏ.

Thứ Tư, 4 tháng 4, 2012

Tòa án khó xác định tài sản chung, riêng của vợ chồng khi ly hôn

tai san ly hon
       Theo đánh giá của TAND Tối cao, các tòa địa phương dễ gặp sai sót khi giải quyết án hôn nhân - gia đình ở khâu xác định tài sản chung, riêng của vợ chồng. Nhiều bản án đã bị hủy vì xác định chưa chính xác, không hợp lý…
       Mới đây, chánh án TAND Tối cao đã kháng nghị giám đốc thẩm yêu cầu hủy hai bản án sơ, phúc thẩm để giải quyết lại việc phân chia tài sản trong vụ ly hôn của vợ chồng chị NTBT tại thị xã Rạch Giá (Kiên Giang).
Xác định chưa hợp lý
       Tài sản tranh chấp là một mảnh đất diện tích hơn 360 m2. Năm 1998, cha mẹ chị T. lập di chúc cho chị phần đất này. Sau đó vợ chồng chị xây hai căn nhà cùng một số công trình phụ trên đất. Năm 2002, cha mẹ chị T. đã thay thế bản di chúc bằng việc lập hợp đồng ghi rõ là cha chị T. chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho chị. Một năm sau, UBND thị xã Rạch Giá cấp giấy đỏ đứng tên vợ chồng chị T. Khi giải quyết vụ ly hôn và chia tài sản của vợ chồng chị T., tòa hai cấp sơ, phúc thẩm đều xác định mảnh đất là tài sản riêng của chị T.
       Theo chánh án TAND Tối cao, xác định như vậy là không phù hợp, chưa đánh giá toàn diện các tình tiết khách quan của vụ án. Bởi lẽ có cơ sở xác định cha mẹ chị T. cho đất riêng con gái. Nhưng sau đó chị T. đã thể hiện ý chí sáp nhập thửa đất này vào khối tài sản chung của vợ chồng qua việc đồng ý cho chồng cùng đứng tên trên giấy đỏ. Do đó, thửa đất là tài sản chung. Ngoài ra, vì nguồn gốc đất là của cha mẹ chị T. cho nên công sức đóng góp của chị là nhiều hơn. Khi giải quyết lại, các cấp tòa cần chia cho chị phần nhiều hơn chồng để đảm bảo công bằng.
Không thu thập chứng cứ
       Một vụ khác tại TP Tam Kỳ (Quảng Nam) vừa bị chánh án TAND Tối cao kháng nghị yêu cầu hủy án.
       Trước đây, vợ chồng ông ĐTN ra tòa ly hôn và tranh chấp một lô đất đang đứng tên ông N. Người vợ khai chồng mua đất lúc nào bà không biết, chỉ khi trong nhà thiếu đi một khoản tiền, bà mới hay là chồng đã lấy đi mua đất. Do đó mảnh đất là tài sản chung của vợ chồng. Ngược lại, ông N. khai nguồn tiền mua đất là của mẹ ông. Mẹ ông N. thì khai năm 2003, bà đưa 90 triệu đồng nhờ con trai mua giùm lô đất trên.
       Xử sơ thẩm, TAND TP Tam Kỳ không công nhận lô đất là tài sản chung của vợ chồng ông N. Xử phúc thẩm, TAND tỉnh Quảng Nam đã sửa án sơ thẩm, công nhận lô đất này là tài sản chung.
       Theo chánh án TAND Tối cao, lời khai của các đương sự rất khác nhau về nguồn tiền mua đất nhưng không bên nào xuất trình được đầy đủ chứng cứ chứng minh. Lẽ ra, các cấp tòa cần phải thu thập thêm chứng cứ để làm rõ thời điểm mua đất, mua của ai, quá trình sử dụng, đăng ký, kê khai. Về nguồn tiền mua, các cấp tòa cũng cần phải xác minh công việc, nguồn thu nhập của các bên cũng như độ chính xác trong lời khai của mẹ ông N. Do không chịu thu thập chứng cứ để làm rõ, mỗi cấp tòa có một quyết định khác nhau nhưng đều chưa đủ căn cứ và thiếu tính thuyết phục.
Phân chia chưa công bằng
       Hội đồng Giám đốc thẩm TAND Tối cao cũng vừa chấp nhận kháng nghị của chánh án TAND Tối cao, hủy bản án phúc thẩm trong vụ ly hôn của bà BTP do không chú ý đến công sức đóng góp của các bên đương sự khi phân chia tài sản.
       Tài sản tranh chấp là lô đất diện tích hơn 132 m2, trên đất có hai căn nhà cấp bốn tọa lạc tại TP Buôn Mê Thuột (Đắk Lắk). Bà P. khai rằng nhà là tài sản chung, còn đất là tài sản riêng do bà mua trước khi kết hôn. Người chồng thì nói cả nhà và đất đều là tài sản chung do ông góp tiền mua.
       Hồ sơ vụ án thể hiện bà P. nhận chuyển nhượng một lô đất diện tích 250 m2 từ người chủ cũ vào đầu năm 1990 với giá 16 chỉ vàng. Đến cuối năm, bà mới kết hôn. Sau đó vợ chồng bà cùng xây nhà chung sống trên diện tích đất này. Đến năm 1999, hai người cùng viết giấy bán nửa lô đất. Nửa lô đất còn lại được UBND TP Buôn Mê Thuột cấp giấy đỏ cho vợ chồng cùng đứng tên.
       TAND TP Buôn Mê Thuột và TAND tỉnh Đắk Lắk đều xác định nhà đất là tài sản chung của vợ chồng, có tổng giá trị hơn 2,3 tỉ đồng. Từ đó, các tòa tuyên cho bà P. được hưởng toàn bộ nhà đất và phải trả cho người chồng 1,1 tỉ đồng.
       Theo TAND Tối cao, việc hai cấp tòa xác định nhà đất là tài sản chung của vợ chồng bà P. là đúng vì có cơ sở xác định bà P. đã tự nguyện nhập phần đất vào khối tài sản chung. Tuy nhiên, đất có nguồn gốc do bà P. mua trước khi kết hôn nên phải xác định rằng bà có công sức đóng góp chủ yếu trong khối tài sản chung, tức bà phải được phần tài sản nhiều hơn người chồng mới đúng.
Không phù hợp thực tế
       Hội đồng Giám đốc thẩm TAND Tối cao cũng vừa chấp nhận kháng nghị của chánh án TAND Tối cao, hủy hai bản án sơ, phúc thẩm trong vụ ly hôn, chia tài sản của vợ chồng anh LXS để giải quyết lại từ đầu.
       Tài sản tranh chấp là một căn nhà cấp bốn và những công trình phụ nằm trên diện tích đất 270 m2. Sau khi hai cấp tòa sơ, phúc thẩm phân chia tài sản, tháng 8-2008, Chi cục Thi hành án Dân sự TP Hạ Long đã có văn bản đề nghị chánh án TAND Tối cao xem xét lại vì không thể thi hành án.
       Nghiên cứu hồ sơ, chánh án TAND Tối cao nhận thấy đề nghị của cơ quan thi hành án là có cơ sở. Hai cấp tòa sơ, phúc thẩm quyết định tạm giao cho người vợ sử dụng một gian nhà và bể nước nhưng không xác định cụ thể các tài sản này nằm ở vị trí nào trên đất. Còn phần diện tích vườn tòa giao cho người vợ sử dụng dù có xác định vị trí, tứ cận nhưng cả cơ quan thi hành án lẫn hai bên đương sự đều… không thể xác định được ranh giới trên thực địa…
Thẩm phán phải đánh giá toàn diện
       Phân chia tài sản vợ chồng khi ly hôn là một vấn đề phức tạp mà ngành tòa án đang phải đối mặt. Trong một số vụ án, thẩm phán đã xác định đúng khối tài sản chung của vợ chồng nhưng khi phân chia thì lại gặp sai sót. Có trường hợp sai sót trong việc chia hiện vật, có trường hợp sai sót trong việc đánh giá công sức đóng góp của mỗi bên. Vì thế khi giải quyết, các thẩm phán cần phải xem xét, đánh giá một cách toàn diện, tính đến hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp trong việc tạo lập, duy trì và phát triển tài sản…
Sớm có hướng dẫn
       Luật Hôn nhân và Gia đình đưa ra nguyên tắc về chia tài sản chung, riêng của vợ chồng khi ly hôn còn chưa rõ ràng. Thực tế nhiều vấn đề chưa được hướng dẫn thống nhất. Có những trường hợp phần đất là do cha mẹ bên vợ hoặc bên chồng cho riêng, sau đó xây nhà hợp thức hóa đứng tên hai vợ chồng hoặc đất được cơ quan cấp riêng cho chồng hoặc vợ, sau đó kết hôn xây nhà hợp thức hóa đứng tên chung. Có tòa xác định đất là tài sản riêng, nhà là tài sản chung có tòa thì cả đất và nhà đều là tài sản chung. Ngoài ra còn có những trường hợp bán căn nhà trước đó lấy tiền cùng nhau tạo lập nhà mới. Việc xác định căn nhà mới là tài sản chung, riêng hay công sức đóng góp thế nào cũng khiến các tòa lúng túng. Có tòa thì cho rằng tài sản chung, có tòa thì lại là tài sản chung có một phần riêng, có tòa buộc đương sự phải chứng minh phần đóng góp… (Luật sư PHẠM TẤT THẮNG, Đoàn Luật sư TP.HCM)
Theo Báo pháp luật TP HCM

Thứ Bảy, 31 tháng 3, 2012

Lưu ý thủ tục xác nhận thanh toán Bảo hiểm y tế khi bị tai nạn giao thông

xac nhan BHYT
     Ông Lê Văn Tâm (ở thị xã Long Khánh, Đồng Nai) phản ánh ông phải mất nhiều thời gian chạy đi chạy lại giữa cơ quan công an và bảo hiểm xã hội (BHXH) để làm thủ tục thanh toán viện phí cho con gái sau khi bị tai nạn giao thông.
Tiến thoái lưỡng nan
      Ngày 19-2-2011, khi chạy xe đi học từ Biên Hòa về Long Khánh, con gái ông là Lê Huyền Trinh (20 tuổi, Sinh viên) đã bị tai nạn giao thông do có người đi bộ bất cẩn băng qua đường trên địa phận huyện Trảng Bom. Trinh bị chấn thương nặng (dập lá lách, chấn thương đầu…) phải đến BV Đa khoa khu vực Thống Nhất điều trị với tổng chi phí gần 10 triệu đồng.
      Do Trinh có mua BHYT nên sau khi Trinh xuất viện, ông làm hồ sơ lên BHXH tỉnh để lấy lại tiền viện phí theo quy định. Ngoài những giấy tờ như thẻ BHYT, giấy ra viện, biên lai viện phí…, ông còn mang những bản photo có đóng dấu treo xác nhận không vi phạm pháp luật về giao thông do Công an huyện Trảng Bom cấp. Biên bản giải quyết tai nạn giao thông, biên bản khám nghiệm hiện trường có ghi rõ: “Do người đi bộ băng qua đường không đúng nơi quy định gây tai nạn giao thông”. Tuy nhiên, nhân viên BHXH không chấp nhận những biên bản này và yêu cầu ông Tâm phải làm đơn khác, có xác nhận của công an huyện về việc con ông không vi phạm luật giao thông.
      Ông Tâm về làm lại đơn nhưng Công an huyện Trảng Bom đã từ chối xác nhận lại, viện lẽ: “Công an đã cung cấp đầy đủ và ghi rất rõ nguyên nhân gây tai nạn rồi thì không cần xác minh gì nữa”. Ông Tâm đến BHXH tỉnh thì cũng nhận được phản hồi là: “Nếu ông không đưa đủ giấy tờ như đã nêu thì BHXH không nhận hồ sơ”.
Xác nhận sao mới đúng?
      Ông Đồng Văn Mai, Phó Giám đốc BHXH tỉnh Đồng Nai, cho biết rắc rối phát sinh do công an huyện cung cấp những giấy tờ liên quan nhưng không có chữ ký của người có thẩm quyền, không đóng dấu giáp lai. Nếu biên bản chỉ có dấu treo thì không có giá trị về mặt pháp lý. Tuy nhiên, nhân viên tiếp nhận hồ sơ cũng có lỗi là hướng dẫn chưa đúng, bắt ông Tâm phải làm một giấy khác gây khó khăn và phải tới lui nhiều lần. “Giờ ông Tâm chỉ cần mang hồ sơ này đến công an huyện xin dấu và chữ ký của người có thẩm quyền nữa là được” - ông Mai nói thêm.
      Thế nhưng Công an huyện Trảng Bom có ý kiến ngược lại. Trung tá Ngô Văn Thạch, Đội trưởng Đội CSGT huyện Trảng Bom, cho biết: “Chúng tôi làm như vậy là đúng quy trình. Nếu thấy chưa hợp lý thì phía bảo hiểm nên cử nhân viên xuống công an huyện để làm rõ chứ không nên bắt dân đi lại nhiều lần”. Mặc dù nói vậy nhưng Công an huyện Trảng Bom cũng đã gọi điện thoại mời ông Tâm đến để bổ sung giấy tờ mà BHXH yêu cầu.
Cách giải quyết ở TP.HCM
      Theo quy định tại khoản 6 mục II phần II Quyết định số 82 ngày 20-1-2010 của BHXH Việt Nam, các trường hợp bị tai nạn giao thông nếu được công an cấp huyện trở lên xác nhận không có vi phạm pháp luật thì được quỹ BHYT thanh toán theo quy định.
      Tại TP.HCM, việc giải quyết thanh toán BHYT cho các trường hợp tai nạn giao thông được giải quyết như sau: Nếu công an giao thông lập biên bản hiện trường thì hồ sơ chỉ cần biên bản hiện trường, biên bản tai nạn giao thông xác nhận đương sự không vi phạm luật giao thông (có xác nhận của công an cấp huyện về người ký trên các biên bản).
      Nếu không có công an chứng kiến vụ việc thì đương sự cần có bản tường trình tai nạn với ít nhất hai người làm chứng và được công an cấp huyện ký, đóng dấu; hoặc công an phường, lực lượng phản ứng nhanh ký và được công an cấp huyện xác nhận. (BS Lưu Thị Thanh Huyền, Trưởng phòng Giám định BHXH TP.HCM)
(Theo Báo Pháp luật Tp HCM)
Trích "Quyết định 82/QĐ-BHXH năm 2010 ban hành Quy định về tổ chức thực hiện hợp đồng khám chữa bệnh, giám định, chi trả chi phí khám chữa bệnh, quản lý và sử dụng quỹ bảo hiểm y tế"
....
Phần 2. PHẠM VI VÀ MỨC CHI TRẢ CHI PHÍ KHÁM CHỮA BỆNH BẢO HIỂM Y TẾ
II. MỨC CHI TRẢ CHI PHÍ KHÁM, CHỮA BỆNH BẢO HIỂM Y TẾ
.....

6. Đối với trường hợp bị tai nạn giao thông, tạm thời thực hiện như sau:
6.1. Nếu đã được cơ quan Công an từ cấp huyện trở lên xác định là không vi phạm pháp luật thì được quỹ BHYT thanh toán theo quy định.
6.2. Nếu chưa xác định được có vi phạm pháp luật về giao thông hay không thì người bị tai nạn giao thông tự thanh toán các chi phí điều trị với cơ sở KCB. Khi có xác nhận không vi phạm pháp luật về giao thông, người bệnh mang chứng từ đến cơ quan BHXH để thanh toán theo hướng dẫn tại khoản 1, mục II phần này.

Một số lưu ý để tránh bị hồ sơ công chứng giả

cong chung dat dai      Phòng Công chứng số 2 TP.HCM vừa phát hiện một vụ làm giả hồ sơ thế chấp nhà để vay 25 tỉ đồng. Điều đáng nói là trước kia, những kẻ làm giả hồ sơ chỉ nhắm vào người dân bình thường, nay thì mức độ tinh vi của chúng đủ để qua mặt ngân hàng. Trong vụ này, kẻ gian dùng giấy hồng giả để thế chấp vay tiền ngân hàng. Phía ngân hàng đã làm xong các thủ tục cần thiết, chỉ còn chờ công chứng hợp đồng, may mà Phòng Công chứng số 2 kịp thời “cứu nguy”.
      Hồ sơ giả chủ yếu liên quan đến nhà, đất vì đây là những tài sản có giá trị lớn. Tuy mức độ giả mạo ngày càng tinh vi nhưng vẫn có cách để tránh những cú lừa.
      Dưới đây là lời khuyên từ những công chứng viên kỳ cựu mà chúng tôi đúc kết được.
1. Tự “soi” giấy chứng nhận
      Đối với những giấy giả được làm một cách thô sơ, người dân cũng có thể tự kiểm tra được. Chẳng hạn, giấy giả có thể sai lỗi chính tả. Phòng Công chứng số 2 TP.HCM phát hiện một giấy hồng giả có lỗi chính tả ở trang 4: “Khi giấy chứng nhận bị hư hỏng, rách nát hoặc mục IV hết chổ ghi…” (đúng ra phải là “hết chỗ”). Những dòng chữ in sẵn trên mẫu giấy đỏ, giấy hồng của cơ quan nhà nước phát hành không sai lỗi chính tả. Do đó, nếu giấy chứng nhận mà có lỗi chính tả thì cần đặc biệt nghi ngờ.
      Về chất liệu giấy: Giấy giả có thể mỏng hơn hoặc trơn láng hơn giấy thật. Màu sắc của hoa văn trên giấy giả đôi khi tươi hơn (có trường hợp giấy hồng giả ngả sang màu cam) hoặc có khi tái hơn. Dấu quốc huy trên giấy thật rất tinh xảo, sắc nét, còn dấu quốc huy trên giấy giả có thể hơi nhòe ở những chi tiết nhỏ. Ngoài ra, với những giấy giả làm bằng cách in phun màu thì nét chữ cũng hơi nhòe. Đây là lý do mà trên bàn làm việc của các công chứng viên thường có kính lúp để soi các dấu hiệu bất thường.
      Độ cũ, mới của giấy chứng nhận cũng là yếu tố đáng lưu ý. Nếu giấy chứng nhận được cấp đã khá lâu mà các nét mực đều còn mới tinh thì cũng đáng nghi ngờ. Cần xem giấy ở nơi có đủ ánh sáng (đã có trường hợp gặp hôm cúp điện, công chứng viên không nhận diện được giấy giả) và tháo lớp ép nhựa (nếu có) để cảm nhận được tốt hơn.
2. Đến tận nơi xem nhà, đất
      Đến tận nơi xem nhà, đất là một cách rất đơn giản để phòng ngừa hữu hiệu đối với vấn nạn làm giả. Qua đó, không những người mua thấy tận mắt tài sản mà còn xác minh được người giao dịch với mình có phải là chủ thật sự hay không.
      Công chứng viên Phan Văn Cheo (Văn phòng Công chứng Sài Gòn) kể về một trường hợp ông đã gặp hồi còn làm trưởng Phòng Công chứng số 1 TP.HCM. Chủ nhà đưa bản phôtô giấy hồng cho “cò” nhà đất nhờ rao bán nhà. “Cò” dựa trên những thông tin trong bản phôtô này để làm một giấy hồng giả, lừa bán cho người khác. Khi “cò” dắt người mua nhà đến công chứng, ông Cheo nghi vấn là giấy giả nên nhờ Phòng TN&MT quận 7 (đơn vị cấp giấy) thẩm định. Đơn vị này cũng không phát hiện ra. Chỉ khi họ cho người đến tận nhà xác minh thì mới khẳng định được giấy chứng nhận trên là giả. Với trường hợp này, nếu người mua chịu khó đi xem tài sản thì đã phát hiện được ngay từ đầu.
      Ông Cheo nêu băn khoăn: “Không hiểu sao có người bỏ ra năm, ba tỉ đồng để mua một căn nhà mà lại dễ dãi một cách kỳ lạ. Mỗi khi chứng hợp đồng cho khách hàng, tôi đều hỏi họ đã đi xem nhà chưa, có cần đi xác minh không… nhiều người lắc đầu, bảo không cần”. Ông Cheo bảo vì cái thật nhiều hơn cái giả, chẳng hạn 100 tờ giấy thật thì mới có đôi ba tờ giấy giả nên nhiều người chủ quan. Song cẩn trọng vẫn hơn vì biết đâu mình sẽ bị rơi vào trường hợp xui xẻo.
3. Hỏi cơ quan phát hành giấy
      Trong thực tế, có nhiều mảnh đất, căn nhà chưa có giấy chứng nhận nhưng chủ nhà “xoay” được một tờ giấy giả và đem bán, bị công chứng viên phát hiện. Ngoài ra, cũng có trường hợp người chủ thật sự bị mất giấy chứng nhận và sau đó đã được cấp giấy mới. Không ngờ giấy chứng nhận cũ rơi vào tay kẻ gian, chúng dùng để rao bán, thế chấp. Nếu hỏi UBND quận nơi phát hành giấy thì người mua sẽ tránh được những trường hợp trên.
      Ngoài ra, nhiều trường hợp làm giả cả giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, giấy đăng ký kết hôn… Người mua có thể đến UBND phường để hỏi thông tin về người bán cho chính xác, đồng thời lân la hỏi hàng xóm xung quanh.
4. Công chứng hợp đồng thế chấp
      Khi nhận thế chấp một căn nhà để cho vay tiền, nhiều người yên tâm cất giữ giấy chứng nhận mà không hay rằng đó chỉ là giấy giả không có giá trị gì.
Cách đây mấy ngày, có người cầm giấy hồng của một căn nhà ở mặt tiền đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, quận 3 đến một phòng công chứng. Ông cho biết chủ căn nhà trên là ông C. có vay của ông hơn 300 triệu đồng. Hai bên chỉ làm hợp đồng cho vay, sau đó ông C. đưa cho ông giữ giấy hồng này. Bây giờ ông C. muốn vay tiền ông tiếp nên ông đến hỏi thủ tục công chứng hợp đồng thế chấp. Sau khi xác minh, công chứng viên cho biết giấy chứng nhận trên là giả mạo. Lúc này, người đàn ông mới than trời, hóa ra lâu nay chỉ nắm giữ một tờ giấy lộn.
      Các công chứng viên khuyên rằng khi cho vay tiền, các bên nên ra công chứng hợp đồng thế chấp. Sau đó làm thêm bước đăng ký giao dịch bảo đảm ở UBND cấp quận. Nếu trải qua trình tự chặt chẽ như trên thì khó bị giấy giả qua mặt.
5. Coi chừng đánh tráo
      Đã có trường hợp khi công chứng hợp đồng trước mặt công chứng viên, bên bán đưa ra giấy thật; sau khi ký kết hợp đồng, bên bán tráo đổi và giao cho người mua giấy chứng nhận giả. Người mua không nhận được nhà, đến phòng công chứng khiếu nại công chứng viên. Phòng công chứng lục hồ sơ lưu ra, bản phôtô giấy thật khác hẳn với những thông tin trong giấy giả.
Nguy cơ trắng tay khi dính phải hồ sơ giả (Công chứng viên PHAN VĂN CHEO)
      Nhiều người dành dụm cả đời mới có một số tiền lớn đủ để mua nhà. Nếu bị lừa ký mua những hồ sơ giả thì có nguy cơ trắng tay. Nếu đã giao tiền cho bên bán thì khả năng lấy lại tiền khá mong manh và mất nhiều thời gian: Phải nhờ cơ quan công an can thiệp hoặc phải kiện ra tòa… Trong khi đó, những kẻ đã cố ý dùng giấy tờ giả mạo chắc chắn sẽ tìm cách lặn mất tăm và tẩu tán hết số tiền đã nhận… Nếu tòa án có tuyên bên bán phải trả lại tiền thì bên bán cũng chưa chắc có tiền, có tài sản để thi hành án được.
      Một công chứng viên cho biết ngoài thiệt hại về tài sản thì có người dính phải giấy giả còn bị tan nát nhà cửa. Ban đầu người chồng không chịu mua nhà nhưng vợ khăng khăng thuyết phục mãi. Đến khi ký xong, phát hiện hồ sơ giả, hai vợ chồng mất trắng số tiền dành dụm, họ đổ lỗi cho nhau và cự cãi suốt. Vụ hồ sơ công chứng giả còn đang được cơ quan công an làm rõ nhưng vợ chồng họ thì đã ly hôn.
      Cơ quan cấp giấy nên làm một mạng thông tin, bất kỳ giấy chứng nhận nào cấp ra cũng phải cập nhật thông tin lên mạng đó: Thửa đất, chủ sử dụng là ai, có dính quy hoạch gì hay không… Công chứng viên có thể tra cứu thông tin trên mạng và trả phí hằng tháng. Nếu xây dựng được mạng thông tin như trên thì sẽ giải quyết được hàng loạt vấn đề liên quan đến công chứng chứ không chỉ gói gọn trong việc ngăn chặn giấy tờ giả mạo. Đáng tiếc là hiện nay vẫn chưa có “nhạc trưởng” nào đứng ra làm điều này. 
(Theo báo Pháp luật TP HCM)

Bài đăng phổ biến